Bạn đang ở »
Home
» Posts filed under
Phân-hữu-cơ
Cách ủ phân hữu cơ vi sinh từ bánh dầu
Dù canh tác theo phương pháp hữu cơ hay hóa học thì bón phân cân đối, đầy đủ, kịp thời đều có ý nghĩa quyết định đối với năng suất, chất lượng nông sản. Trong phương pháp canh tác hữu cơ, các loại phân ủ thông thường (phân chuồng, phân xanh,…) có tỷ lệ chất độn cao, hàm lượng dinh dưỡng thấp, hiệu quả tác động chậm. Nên chỉ phù hợp cho việc bón lót, khó đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng vào những thời kỳ quan trọng. Do vậy, để đạt được hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ, chúng ta cần phải có được những loại phân bón hữu cơ đậm đặc, có hàm lượng dinh dưỡng cao, tốt độ đáp ứng nhanh để bón thúc cho cây trồng vào những thời kỳ quan trọng. Trong đó nổi trội nhất là phân bánh dầu và phân cá.
Nhu cầu cải tạo và những lưu ý khi cải tạo vườn trồng rau
1. Nhu cầu cải tạo vườn
Mỗi gia đình, để có được một mảnh vườn với đầy đủ các loại rau, quả cho năng suất cao, phẩm chất tốt, đáp ứng cho nhu cầu hàng ngày của gia đình và có dư thừa để bán tăng thu nhập. Người làm vườn cần phải biết cách lập và cải tạo vườn.
Mô hình vườn rau gia đình - Ảnh: minh hoạ
|
Bài viết dưới đây trình bày một số vấn đề cần lưu ý:
- Cần xác định được những loại cây trồng chính trong vùng. Dựa trên điều kiện tự nhiên như đất đai, địa hình, khí hậu... để bố trí cây trồng trong vườn sao cho thích hợp.
- Chọn giống thích hợp, giống tốt, sạch bệnh để trồng.
- Kiểm tra độ màu mỡ, phì nhiêu của đất vườn.
- Tiến hành tỉa bỏ những cây có tán lớn, ra quả ít, giá trị kinh tế thấp.
- Thực hiện biện pháp luân canh, xen canh đa dạng cây trồng để tiết kiệm diện tích và tận dung tối đa đất trồng.
- Mục đích sử dụng sản phẩm từ cây trồng khi thu hoạch...
2. Cách cải tạo vườn.
Khi tiến hành cải tạo vườn, cần xem xét các yếu tố như: đất, nước, phân bón, giống cây trồng và các biện pháp canh tác, bảo vệ thực vật, để từ đó đưa ra các phương pháp, cách thức cải tạo sao cho phù hợp và đạt hiệu quả cao nhất.
2.1. Đất
Trong trồng trọt, đất được coi là nền tảng của cây trồng, đất nào cây ấy. Vì vậy, phải biết cải tạo và sử dụng đất, chọn cây trồng thích hợp với đất, biết thâm canh để cải tạo vườn rau.
Việt Nam là một nước nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, thuận lợi cho trồng rau với nhiều chủng loại rất đa dạng, phong phú như: rau ăn củ, ăn quả, rau ăn lá, ăn hoa, rau gia vị, rau làm thuốc... Mỗi một loại rau có thời gian sinh trưởng và phát triển khác nhau, có loại ngắn ngày, có loại dài ngày, có loại trồng một lần cho thu hoạch nhiều năm.
Môi trường sinh sống của mỗi loại rau cũng khác nhau, có loại rau sống ở những nơi có nước liền chân, có loại rau sống ở trên đất cao ráo, có loại thân bò trên mặt đất và có loại thì thân leo... Nhưng với bất kỳ một loại rau nào, người trồng rau phải biết được đặc tính sinh học và yêu cầu ngoại cảnh của nó để có cách thức trồng và canh tác sao cho hợp lý.
Yêu cầu đối với đất trồng rau phải là đất tốt, nhiều màu, tầng đất canh tác dày, thoát nước nhanh và có khả năng thấm nước cao (đối với rau trồng cạn), giữ được nước liền chân (đối với rau trồng ở nước).
Đất trồng vụ này sang vụ khác, cùng với sự tác động của tự nhiên, đất đai bị bạc màu, rửa trôi... vì thế phải tiến hành cải tạo dất, để có đất tốt thích hợp trồng rau.
![]() |
| Cải tạo đất - Ảnh minh hoạ |
* Cải tạo đất
Với đất cát khó giữ ẩm, mùa khô hạn cây dễ bị chết, cần bố trí cây trồng thích hợp và tăng lượng phân hữu cơ (đặc biệt là phân chuồng hoai mục).
Với đất nặng, nhiều sét, cần thêm đất cát pha, đất phù sa và bón nhiều phân hữu cơ.
Với đất nhẹ, bón phân hữu cơ, bùn ao phơi khô và đập vụn.
Với đất chua mặn, bón nhiều phân hữu cơ, vôi bột và phân N, P, K hợp lý.
Với đất gò, đồi dốc, tiến hành san đất, tạo thành ruộng bậc thang.
Trong đất có nhiều sỏi, đá,... cần phải được nhặt bỏ, diệt trừ cỏ dại tận gốc, tạo mặt bằng trong vườn để dễ trồng và tiện chăm sóc. Cần phải được lên luống đều và thẳng.
2.2. Nước
Cẩn phải đảm bảo nguồn nước để tưới cho cây. Đối với những gia đình có vườn ở gần sông, suối, kênh, mương thì vấn đề nước không đáng lo ngại. Nhưng đối gia đình ở xa nguồn nước, cần phải tạo lập nguồn nước bằng cách đào ao để dự trữ nước tưới cây và còn giữ ẩm cho đất.
![]() |
| Chăm sóc cây - tưới nước bằng vòi phun mưa - Ảnh minh hoạ |
Cây rau trong suốt thời gian sinh trưởng và phát triển luôn cần một lượng nước nhất định để giúp cho việc hút chất dinh dưỡng nuôi cây và quang hợp tốt. Tuy nhiên trong quá trình tưới nước cần nắm bắt được từng giai đoạn phát triển của cây, để có chế độ tưới nước thích hợp. Thừa nước hay thiếu nước, cây sẽ phát triển không bình thường, thậm chí có thể bị chết.
Yêu cầu nước tưới phải sạch, không chua mặn. Đối với cây rau ăn lá, nên tưới theo kiểu phun mưa bằng bình tưới có gương sen, còn đối với rau ăn quả thì tưới vào gốc.
Thông thường, sau khi gieo hạt và lấp lên trên hạt giống rau một lớp đất bột mỏng hay là sau khi trồng cây giống, cần phải tưới nước để đảm bảo cho hạt nảy mầm, cây bén rễ được tốt.
Những đêm có sương muối, sáng ra phải tưới nước lên lá để rửa sương muối, đảm bảo cho cây phát triển tốt.
Tưới cây nên tưới vào buổi sáng sớm hoặc xế chiều. Chú ý với từng loại đất, mức độ thấm hút nước và giữ nước là khác nhau.
Tưới nước cho cây cũng đòi hỏi những cách thức cụ thể hợp lý. Tưới nước nhiều cây bị ngập úng, tưới ít nước thì không đảm bảo cho cây sinh trưởng và phát triển. Công cụ để tưới cũng cần phải lựa chọn, tránh làm rửa trôi lớp đất màu mỡ, phì nhiêu khi tưới nước.
2.3. Phân bón
Trong quá trình cải tạo vườn, luôn luôn phải chú ý tới phân bón. Bón phân cho cây trồng nhằm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm của cây tồng. Nhưng phải bón sao cho hợp lý, không ảnh hưởng đến đất đai và những vụ canh tác về rau.
![]() |
| Tự sản xuất phân bón hữu cơ - Ảnh: Baodaclac |
* Bón phân hợp lý.
Là việc sử dụng năng lượng phân bón thích hợp bón cho cây đảm bảo tăng năng suất cây trồng với hiệu quả kinh tế cao nhất, không để lại hậu quả xấu lên nông sản và môi trường sinh thái. Để bón phân hợp lý, người làm vườn cần nắm bắt được những vấn đề cơ bản sau:
- Bón phân đúng lúc, đúng loại:
Cây trồng trong thời gian sinh trưởng và phát triển có những thời điểm cần lượng phân và loại phân khác nhau. Vì vậy, cần phải bón đúng lúc, đúng loại mới đem lại hiệu quả cao. Bón phân không nên bón tập trung trong một thời điểm, mà cần phải chia ra làm nhiều giai đoạn. Đối với giai đoạn cây sinh trưởng và phát triển mạnh, cần bón với lượng phân nhiều hơn. Bón phân với nồng độ và liều lượng quá cao, cây không thể sử dụng hết, lượng phân sẽ bị hao hụt nhiều và có thể gây ra nhiều tác hại xấu đối với đất đai, cây trồng.
Hiện nay, có rất nhiều loại phân bón. Nhưng không phải cây nào, giai đoạn nào cũng có thể bón được. Cho nên trước khi bón cần căn cứ vào đặc tính, giống cây, đất đai... có như vậy mới phát huy được hiệu quả của việc bón phân.
Thời tiết, mùa vụ có ảnh hưởng đến hiệu quả của phân bón. Vì vậy, khi tiến hành bón phân cần phải căn cứ vào thời tiết, mùa vụ.
Nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa và có sự phân hoá: Bắc - Nam, theo mùa, theo độ cao. Đối với những loại cây trồng ngắn ngày, một năm có thể sản xuất được nhiều vụ. Tuy vậy, mỗi vụ cây trồng lại có đặc điểm sinh trưởng và phát triển khác nhau, nhu cầu đối với tác động của từng yếu tố dinh dưỡng cũng khác nhau. Chính vì thế cần phải lựa chọn phân bón và bón đúng thời tiết, mùa vụ mới đạt hiệu quả.
Ví dụ: Bón phân vào thời điểm có lượng mưa lớn, mưa nhiều, rất dễ bị rửa trôi, gây lãng phí. Bón phân vào thời điểm nắng gắt cùng với sự tác động của các hạt phân bón có thể gây cháy lá, hỏng hoa, quả...
- Bón phân đúng cách:
Có nhiều cách thức bón phân: bón vào hố, vào rãnh, rải trên mặt đất, bón lót, bón thúc (thúc đẻ nhánh, thúc ra hoa, thúc kết trái, thúc mẩy hạt...). Trước khi bón cần căn cứ vào diện tích, kích thước luống, giống cây trồng, đất trồng... để có cách thức bón phân hợp lý.
Bón phân là khâu quan trọng không thể thiếu được đối với người làm vườn. Nên phải có cách thức bón phân hợp lý, cây trồng mới cho năng suất cao.
- Bón phân cân đối:
Cây trồng trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển có những nhu cầu dinh dưỡng khác nhau, sống trên các loại đất khác nhau cũng có nhu cầu về chất dinh dưỡng khác nhau. Các nguyên tố dinh dưỡng cho cây trồng cần phải được cân đối hợp lý, các loại nguyên tố ảnh hưởng dư thừa cũng không thể thay thế nguyên tố thiếu hụt khác.
Trong việc cải tạo vườn gia đình, bón phân cân đối giúp cho việc ổn định và cải thiện độ phì nhiêu của đất, bảo vệ đất, chống rửa tổi, xói mòn. Bên cạnh đó còn tăng năng suất, chất lượng của sản phẩm cây trồng, nâng cao hiệu quả của phân bón và các biện pháp kỹ thuật canh tác khác. Bảo vệ tốt nguồn nước, khí thải độc hại gây ô nhiễm môi trường.
- Xử lý trước khi đem bón:
Trong việc cải tạo đất trồng và chăm sóc cây trồng không thể thiếu phân chuồng. Nó làm tăng độ màu mỡ, phì nhiêu cho đất và nâng độ dày tầng đất canh tác, giữ và bảo đảm chất dinh dưỡng lâu bền nuôi cây. Bởi vậy, khi cải tạo vườn và trồng trọt phải sử dụng phân chuồng. Nhưng phân chuồng trước khi đem sử dụng cần phải được xử lý bằng cách phương pháp thông thường như sau:
+ Ủ phân: Là biện pháp cần thiết trước khi đem phân ra bón vườn. Vì trong phân chuồng tươi có lẫn hạt cỏ dại, nhiều kén nhộng, côn trùng, nhiều bào tử ngủ nghỉ của nấm, xạ khuẩn và tuyến trùng gây bệnh.
Ủ phân có tác dụng sử dụng nhiệt độ cao trong quá trình phân huỷ chất hữu cơ để tiêu diệt cỏ dại và mầm mống bệnh sâu bệnh, côn trùng vừa thúc đẩy quá trình phân huỷ chất hữu cơ. Ủ phân làm cho trọng lượng phân chuồng giảm xuống, nhưng chất lượng lại tăng lên. Sau quá trình ủ phân, người làm vườn thu được phân ủ (phân hữu cơ). Trong phân ủ có mùn, một phần chất hữu cơ chưa được phân huỷ, muối khoảng, các sản phẩm trung gian của quá trình phân huỷ, có một lượng Enzym, chất kích thích và các loài vi sinh vật hoại sinh.
+ Phương pháp ủ nóng:
Bước 1: Phân gia súc mới thải ra, đem bỏ vào bể, hố chứa đã xây dựng sẵn, có nền không thấm nước (không được nén). Sau đó tưới nước phân lên và giữ độ ẩm trong đống phân 60 - 70%.
Bước 2: Trộn từ 1 - 2% supe lân để giữ đạm.
Bước 3: Lấy bùn ao phủ bên ngoài đống phân.
Bước 4: Hàng ngày tưới nước phân lên đống phân.
Ưu điểm: Ủ nóng có tác dụng tiêu diệt hạt cỏ dại, loại trừ các mầm mống gây bệnh. Ủ phân sau 30 - 40 ngày có thể sử dụng được.
+ Phương pháp ủ nguội.
Bước 1: Phân gia súc thải ra, đem xếp thành lớp và nén chặt.
Bước 2: Trên mỗi lớp phân chuồng, rắc khoảng 2 % phân lân.
Bước 3: Lấy đất bùn phơi khô đập nhỏ hoặc đất bột phủ lên và nén chặt.
Lưu ý:
Chiều cao, chiều dài và chiều rộng của đống phân phụ thuộc vào lượng phân chuồng có sẵn nên khi xếp phân xong, lấy bùn ao phủ bên ngoài đống phân.
Sau khoảng thời gian 5 - 6 tháng, phân có thể sử dụng được. Phân ủ bằng phương pháp ủ nguội cho chất lượng tốt hơn khi phân ủ nóng.
Ngoài 2 phương pháp ủ phân trên đây, còn có phương pháp ủ nóng trước, ủ nguội sau, những phương pháp này tốn nhiều công đoạn. Hơn nữa với vườn gia đình, sử dụng phương pháp ủ nóng hay ủ nguội là được.
Nguồn:
Theo Hà Thị Hiến
Các loại phân bón trong nông nghiệp
Phân bón rất cần thiết cho nông nghiệp vì cây được ví như thức ăn của cây. Nếu không có phân bón thì cây không thể phát triển được. Do đó phân bón có một tầm quan trọng rất lớn trong nền nông nghiệp thế giới nói chung và nông nghiệp Việt Nam nói riêng.
![]() |
| Phân loại phân bón cơ bản - Ảnh: VRS |
Có rất nhiều loại phân bón dùng cho nông nghiệp nhưng tựu trung lại chia thành 2 nhóm chính là phân hữu cơ và phân vô cơ.
Tài liệu sau đây sẽ trình bày chi tiết các loại phân bón này.
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.Hiểu biết về trấu hun và cách hun trấu đúng cách.
Hiểu biết về trấu hun và cách hun trấu đúng cách.
![]() |
| Ảnh minh hoạ: Trấu hun (trấu hầm) |
Trấu hun có giá thành rẻ, sạch mầm bệnh nên được dùng chủ yếu làm giá thể trồng rau mầm, trồng rau bằng phương pháp thuỷ canh cũng như được dùng trong thổ canh. Bài viết sau sẽ trình bày các ưu, nhược điểm của trấu hun. Sau cùng là hướng dẫn cách tự hun trấu tại nhà bằng hình ảnh. Với phương pháp này, ai có nguồn cung cấp trấu hun dồi dào, có thể tự hun để sử dụng trước hết cho gia đình.
Các phần trình bày:
1. Trấu hun
1.1. Trấu hun là gì
1.2. Ưu điểm của trấu hun
1.3. Nhược điểm của trấu hun
2. Phương pháp hun trấu
2.1. Chuẩn bị vật liệu
2.2. Cách làm
3. Kết luận
4. Tài liệu tham khảo
1. Trấu hun
1.1. Trấu hun là gì:
- Vỏ trấu (trấu tươi) được đốt trong điều kiện yếm khí (thiếu oxy) thành than trấu hay thường gọi là trấu hun.
- Trấu hun sau khi được đốt từ vỏ trấu tươi thì thành phần chính của nó chỉ là carbonhydrat và kali. Do đó, khi sử dụng làm giá thể trồng cây, ta phải trộn thêm các chất có hàm lượng đạm, trung, vi lượng, phân chuồng hoai mục... vào thì cây mới phát triển tốt được. Trấu hun có thể dùng bổ sung cho cây ăn quả khi cây bước vào giai đoạn dưỡng quả.
1.2. Ưu điểm của trấu hun:
- Là giá thể sạch, tơi xốp
- Vô trùng hoàn toàn: không có nấm bệnh, vi khuẩn
- Hút và giữ nước, giữ phân tốt.
- Thoáng khí tạo điều kiện thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt.
- Chi phí sản xuất thấp, giá thành rẻ hơn so với các loại giá thể khác.
- Hàm lượng kali lớn.
1.3. Nhược điểm của trấu hun
- Kém dinh dưỡng nên không thể thay thế đất để trồng rau.
- Hấp thụ nhiệt vì có hàm lượng carbon cao, không tốt cho rễ cây vào những ngày nhiệt độ cao, nắng nóng.
2. Phương pháp hun trấu và cách làm
- Có nhiều cách hun trấu nhưng đều dựa trên nguyên lý cơ bản là đốt trấu trong điều kiện yếm khí (thiếu oxy). Sau đây xin giới thiệu một phương pháp sản xuất trấu hun đơn giản, dễ làm, ai cũng làm được và tóm tắt cách làm của anh hoang giap (mem: rausach.com.vn; agriviet.com) để mọi người tham khảo, áp dụng..
- Cách làm như sau: (nguyên văn bởi hoang giap)
- Một ống típ fi 90 mm dài 1m.
- 05 miếng tôn hình thang, có chiều cao là 40 cm, đáy lớn 25cm, đáy nhỏ 06cm.
- 05 miếng tôn hình thang, có chiều cao là 40 cm, đáy lớn 25cm, đáy nhỏ 06cm.
- Khoan sắt và các mũi khoan fi 12 hoặc 14.
- Máy hàn điện (nếu không có thì đi thuê hàn).
2.2. Cách làm
- Bước đầu các bạn cho khoan lổ fi 12 hoặc 14 mm từ chân ống típ lên 40 cm, chia đều như trong hình, cũng như 5 miếng tôn cũng khoan như trong hình. Sau đó đem hàn lại với nhau như trong hình.
- Tổng thể ống hun trấu.
- Tổng thể ống hun trấu.
+ Chuẩn bị tưới nước làm nguội trấu.
+ Trấu đã nguội.
+ Kết quả sau 4 giờ hun, trấu than quá đạt phải ko các bạn.
+ Tỷ lệ chín trấu là 99%, ko chê vào đâu được.
3. Kết luận
- Qua các hình ảnh trên, mong rằng các bạn sẽ tự hun được trấu để sử dụng cho việc trồng rau của mình.
4. Tài liệu tham khảo:
http://www.rausach.com.vn
http://www.agriviet.com
http://wikipedia.com
và các tài liệu khác trên internet
Ebooks - Phân hữu cơ và phân ủ - PGS.TS Nguyễn Thanh Hiền
Ebooks - Phân hữu cơ và phân ủ
Xin giới thiệu các bạn cuốn tài liệu: "PHÂN HỮU CƠ VÀ PHÂN Ủ "
Chủ đề: Nông nghiệp và nông thôn
của PGS.TS Nguyễn Than Hiền - Viện nghiên cứu và phổ biến kiến thức Bách Khoa
Vi sinh vật và tác dụng của nó đối với đất trồng
Vi sinh vật và tác dụng của nó đối với đất trồng.
(Bài viết tham khảo từ nhiều nguồn).
![]() |
| Ảnh 1: Vi sinh vật |
![]() |
| Ảnh 2: Vi sinh vật |
Mục lục:
1. Vi sinh vật là gì?
2. Vai trò của vi sinh vật
3. Các chủng VSV
4. Quá trình hình thành mùn nhờ VSV
5. Quá trình hình thành theo thực nghiệm của Konopva
6. Điều kiện hoạt động của VSV
7. Các biện pháp cải tạo đất ảnh hưởng tới hệ VSV
8. Kết luận
1. Vi sinh vật là gì?
Vi sinh vật (VSV) là những sinh vật vô cùng nhỏ bé, có kích thước hiển vi, không thể nhìn thấy bằng mắt thường. VSV bao gồm: vi khuẩn, vi tảo, vi nấm, động vật nguyên sinh, vi rút….
![]() |
| Ảnh 3: Vi sinh vật |
2. Vai trò của VSV
2.1. Trong tự nhiên:
- Có lợi:
+ Vi sinh vật là mắt xích quan trọng trong các chu trình chuyển hóa vật chất và năng lượng trong tự nhiên
+ Tham gia vào việc gìn giữ tính bền vững của hệ sinh thái và bảo vể môi trường
- Có hại :
+ Gây bệnh cho người ĐV, TV
+ VSV là nguyên nhân gây hư hỏng thực phẩm
+ Tham gia vào việc gìn giữ tính bền vững của hệ sinh thái và bảo vể môi trường
- Có hại :
+ Gây bệnh cho người ĐV, TV
+ VSV là nguyên nhân gây hư hỏng thực phẩm
2.2. Trong nghiêm cứu di truyền
Là đối tượng lí tưởng trong công nghệ di truyền, công nghệ sinh học…
2.3. Trong đời sống con người
- Sản xuất sinh khối, và các chất có hoạt tính sinh học
+ Sản xuất axit amin
+ Sản xuất chất xúc tác sinh học (các enzim ngoại bào : amilaza, prôteaza..)
+ Sản xuất gôm sinh học:
+ Sản xuất chất kháng sinh
- Được sử dụng trong ngành công nghiệp lên men, nhiều sản phẩm lên men VSV đã đựoc sản xuất lớn ở qui mô công nghiệp
- Bảo vệ môi trường: VSV tham gia tích cực vào quá trình phân giải các phế thải nông nghiệp, phế thải công nghiệp, rác sinh hoạt …
- Trong sản xuất nông nghiệp :
+ Được sử dụng làm phân bón, thuốc trừ sâu vi sinh và các chế phẩm vi sinh dùng trong chăn nuôi
+ Tham gia vào quá trình tạo mùn, quá trình phân giải xác hữu cơ thành dạng đơn giản dùng làm thức ăn cho cây trồng
- Có vai trò quan trọng trọng ngành năng lượng: Các VSV chuyển hóa chất hữu cơ thành cồn, gas …
3. Các chủng VSV
3.1. VSV phân giải tinh bột
Trong rác bể ủ có nhiều loại vi sinh vật có khả năng phân giải tinh bột. Một số vi sinh vật có khả năng tiết ra môi trường đầy đủ các loại enzym trong hệ enzym amilaza. Ví dụ như một số vi nấm bao gồm một số loại trong các chi Aspergillus, Fusarium, Rhizopus. Trong nhóm vi khuẩn có một số loài thuộc chi Bacillus, Cytophaza, Pseudomonas... Xạ khuẩn cũng có một số chi có khả năng phân huỷ tinh bột. Đa số các vi sinh vật không có khả năng tiết đầy đủ hệ enzym amilaza phân huỷ tinh bột. Chúng chỉ có thể tiết ra môi trường một hoặc một vài men trong hệ đó. Các nhóm này cộng tác với nhau trong quá trình phân huỷ tinh bột thành đường. Trong sản xuất người ta thường sử dụng các nhóm vi sinh vật có khả năng phân huỷ tinh bột. Ví dụ trong chế biến rác thải hữu cơ người ta cũng sử dụng những chủng vi sinh vật có khả năng phân huỷ tinh bột để phân huỷ tinh bột có trong thành phần rác hữu cơ.
Trong rác bể ủ có nhiều loại vi sinh vật có khả năng phân giải tinh bột. Một số vi sinh vật có khả năng tiết ra môi trường đầy đủ các loại enzym trong hệ enzym amilaza. Ví dụ như một số vi nấm bao gồm một số loại trong các chi Aspergillus, Fusarium, Rhizopus. Trong nhóm vi khuẩn có một số loài thuộc chi Bacillus, Cytophaza, Pseudomonas... Xạ khuẩn cũng có một số chi có khả năng phân huỷ tinh bột. Đa số các vi sinh vật không có khả năng tiết đầy đủ hệ enzym amilaza phân huỷ tinh bột. Chúng chỉ có thể tiết ra môi trường một hoặc một vài men trong hệ đó. Các nhóm này cộng tác với nhau trong quá trình phân huỷ tinh bột thành đường. Trong sản xuất người ta thường sử dụng các nhóm vi sinh vật có khả năng phân huỷ tinh bột. Ví dụ trong chế biến rác thải hữu cơ người ta cũng sử dụng những chủng vi sinh vật có khả năng phân huỷ tinh bột để phân huỷ tinh bột có trong thành phần rác hữu cơ.
![]() |
| Ảnh 4: Vi sinh vật Aspergillus |
3.2. VSV phân huỷ chuyển hoá xenlulozơ
Một số VSV được biết đến là Tricoderma, vi nấm, Asperrgillus, Fusarium hay mucor
![]() |
| Ảnh 5: Vi sinh vật tricoderma |
3.3. VSV phân giải đường
Một số VSV đặc trưng là: nấm men,…
3.4. Các chủng VSV khác:
Một số chủng VSV khác có tác dụng cố định đạm, phân giải lân, phân giải kali hay hydrocacbon và các polime dự trữ nội bào…
4. Quá trình hình thành mùn từ VSV
4.1. Thế nào là mùn? Mùn hình thành như thế nào?
Hiểu một cách đơn giản, mùn là một thể hữu cơ phức tạp, là một bộ phận rất quan trọng trong đất. Mùn là cơ sở chủ yếu hình thành độ phì nhiêu của đất. Nói cách khác, quá trình hình thành mùn gắn liền với quá trình phát sinh đất.
Hiểu một cách đơn giản, mùn là một thể hữu cơ phức tạp, là một bộ phận rất quan trọng trong đất. Mùn là cơ sở chủ yếu hình thành độ phì nhiêu của đất. Nói cách khác, quá trình hình thành mùn gắn liền với quá trình phát sinh đất.
Để hình thành mùn thì các chất thải của môi trường như: xác động, thực vật, các chất hữu cơ hoai mục như phân gà, phân bò, phân chim, phân rơi…cần phải được một số chủng VSV có trong đất biến đổi thành. Nhóm VSV này được biết đến là VSV lên men. Bao gồm nhiều loại: VSV phân giải tinh bột, VSV phân giải đường, VSV phân huỷ chuyển hoá xenlulozơ, hemixenlulozơ (saccaromices, mucor,bacillus…).
4.2. Các quan điểm hình thành VSV
4.2.1. Quan điểm hoá học:
Theo quan điểm này thì xác động, thực vật vùi trong đất sẽ thối rữa, phân huỷ và chuyển hoá do quá trình oxi hoá các chất vô cơ, phần cònlại sau quá trình phân giải sẽ tạo thành mùn. Như vậy, mùn là chất dư thừa sau quá trình phân giải xác đông, thực vật.
4.2.2. Quan điểm sinh học:
Khi xác động, thực vật được vùi vào đất nhờ có các VSV phân huỷ chuyển hoá theo 02 hướng: vô cơ hoá và mùn hoá. Quá trình vô cơ hoá diễn ra trước tiên. Đó là quá trình chuyển hoá các hợp chất hữu cơ thành các chất vô cơ dễ tiêu. Sau khi quá trình này kết thúc, quá trình mùn hoá bắt đầu. Cụ thể, đó là quá trình chuyển hoá hợp chất hữu cơ thành các chất vô cơ và hữu cơ đơn giản hơn kết hợp với quá trình tự tiêu, tự giải của VSV. Do vây, mùn là sản phẩm tổng hợp được hình thành nhờ hoạt động của VSV. Quá trình hình thành mùn nhanh hay chậm là do chủng VSV và do chính bản thân các xác động, thực vật vùi lấp trong đất.
5. Quá trình hình thành mùn theo thực nghiệm của nhà khoa học Konopva
Thực nghiệm cho thấy:
- Sau 3 ngày trên bề mặt của cỏ 3 lá được phủ dày đặc nấm sợi/
- Sau 7 ngày thấy nấm sợi biến mất, thay thế vào đó là vi khuẩn và nguyên sinh động vật.
- Sau 10 ngày, nhóm VSV lên men xuất hiện saccharomyces.
- Sau 15 ngày, biến trùng xuất hiện.
- Sau 6 tháng, xuất hiện nhiều loại xạ khuẩn và vi khuẩn nha bào. Chúng hoạt động mạnh để phân huỷ các chất bền vững như: xenlulozơ, hemixenlulozơ, lignin, chitin...
- Sau quá trình là mùn hình thành.
6. Điều kiện phân giải:
Muốn VSV phân giải được chất hữu cơ, phải đảm bảo điều kiện thích hợp gồm: nhiệt độ, độ ẩm, pH, tỉ lệ C/N. Tùy loại VSV mà đòi hỏi các điều kiện khác nhau.
- Đa số VSV là loại ưa ấm, thích hợp ở nhiệt độ từ 28 – 30oc.
- Đa số VSV thích hợp ở pH trung tính pH từ 6,5 – 7,5.
Nếu cao quá, thấp quá VSV không sinh trưởng được.
- VSV cần các chất khoáng khác nhau, trước hết là cacbon và Nito(C/N). Tỉ lệ thích hợp thường trên 30(C/N ~30 – 35). Nếu trên 30 là ít N nhiều Cacbon, lúc đó có thể bổ sung thêm Cacbon. Nếu C/N nhỏ hơn 30 là thiếu N, cần bổ sung thêm nguồn Nito từ phân chuồng.
7. Các biện pháp cải tạo đất ảnh hưởng tới hệ VSV trong đất.
- Các biện pháp canh tác như: cày bừa, xới xáo, bón phân... đều ảnh hưởng trực tiếp tới VSV và qua đó ảnh hưởng tới hàm lượng mùn trong đất. Tuy nhiên, nó lại có tác dụng trong việc làm thoáng khí giúp VSV phát triển tốt hơn.
- Biện pháp bón phân hữu cơ và vô cơ vào đất: Trong quá trình canh tác, trồng cây, người nông dân thường bón thêm phân chuồng, phân xanh, vôi... vào đất cũng ảnh hưởng tới hệ VSV. Bón phân hữu cơ, phân vô cơ hay vôi đều cung cấp dinh dưỡng cho VSV và bổ sung các đặc điểm lý, hoá của đất làm tăng cường hoạt động của VSV.
8. Kết luận:
Tài liệu trên đây chỉ mô tả một số họ VSV có ích trong quá trình cải tạo đất, đặc biệt trong vấn đề hình thành mùn. Cụ thể, các chủng VSV này ra sao, hoạt động như thế nào xin xem thêm trong tài liệu tham khảo chuyên nghành, trong bài viết này xin không đề cập đến.
Và các tài liệu chuyên ngành.
Tìm hiểu về phân hữu cơ
Tìm hiểu về phân hữu cơ
Phân hữu cơ là gì? Tác dụng của nó ra sao đối với đất và cây trồng. Bài viết sau đây sẽ giúp bạn biết một số thông tin hữu ích về loại phân này.Như ta biết, cây trồng muốn phát triển được thì đều phải được cung cấp chất dinh dưỡng đầy đủ từ đất hoặc từ dung dịch thuỷ canh hoặc khí canh. Nếu trong đất không có đủ chất dinh dưỡng thì cây sẽ kiệt quệ, phát triển kém. Do đó, sau mỗi vụ thu hoạch cây trồng thì người nông dân phải tiến hành bón phân cho đất để trồng tiếp vụ sau.
Trên thị trường hiện nay có hai loại phân bón chính là phân bón hữu cơ và phân vô cơ. Phân vô cơ được biết đến với các thành phần chính: đạm (urê), lân và kali. Phân hữu cơ thì có các thành phần chính như: phân gà, phân bò, phân chim, phân rơi hoai mục, ngoài ra còn một số phế phẩm như vỏ cà phê, xác động thực vật phân huỷ... Đặc điểm chung của chúng là đều cung cấp chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng cả đa, trung và vi lượng. Phân vô cơ thì ngoài tác dụng cung cấp dưỡng chất cho cây trồng thì thường làm cho đất bị cằn, không có tác dụng cải tạo đất. Ngược lại, phân hữu cơ ngoài tác dụng cung cấp dưỡng chất cho cây trồng còn có tác dụng cải tạo đất đáng kể. Vậy trong phân hữu cơ có gì?
Thành phần chung nhất của các loại phân bón hữu cơ chính là hàm lượng các chất hữu cơ. Ngoài ra tuỳ thuộc vào từng loại phân bón mà nhà sản xuất thường bổ sung các loại đạm, lân hay kali và các chất trung, vi lượng và vi sinh giúp tơi xốp đất tạo môi trường thuận lợi cho bộ rễ của cây phát triển. Bón phân hữu cơ thì đất sẽ có khả năng giữ nước, giữ phân bón tốt hơn, giảm sự thất thoát do bay hơi hoặc rửa trôi. Sau một thời gian, các chất hữu cơ sẽ chuyển hoá thành mùn, tạo độ phì nhiêu cho đất. Ngoài ra còn có một số loại phân bón hữu cơ cao cấp còn cung cấp một lượng lớn vi sinh vật có ích, có tác dụng cải tạo đất bạc màu, đất nghèo dinh dưỡng, đất cằn cỗi thành đất tơi xốp, giàu dinh dưỡng như phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh, phân hữu cơ Nhật Thiên Kim, phân rơi Úc,... Để chuyển hoá các chất hữu cơ trong phân thành mùn thì cần một lượng lớn các chủng vi sinh vật. Các chủng vi sinh vật này rất đa dạng như chủng vi sinh vật lên men (phân giải tinh bột, phân giải đường, phân huỷ chuyển hoá xenlulôzơ...), cố định đạm, phân giải lân, phân giải kali. Do đó, bón phân hữu cơ chính là biện pháp góp phần làm cho đất tơi xốp, cung cấp kịp thời chất dinh dưỡng cho đất, nâng cao năng xuất cây trồng.
Qua các phân tích trên ta thấy phân hữu cơ có tác dụng rất tốt đối với đất và cây trồng. Tuy nhiên bón như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất lại là vấn đề mà người nông dân quan tâm nhất. Theo kinh nghiệm thì để đạt hiệu quả cao nhất, đối với cây trồng ngắn ngày, phân hữu cơ nên dùng để bón lót nhằm kích thích cây trồng phát triển tốt nhất giai đoạn cây con, nhất là giai đoạn phát triển thân, lá. Còn các cây trồng lâu năm như cà phê, cao su, hồ tiêu, điều hay cây ăn quả nói chung nên bón lót vào lúc cây còn nhỏ và các thời điểm trước mùa mua, trước khi ra hoa. Lượng bón thì tuỳ theo thời điểm, tăng dần khi cây lớn dần. Nói chung phân hữu cơ tốt và ít hại đến cây trồng nên có thể bón lượng lớn và bón nhiều lần giúp cây trồng phát triển tốt nhất.
Cách làm phân cá
Cách làm phân cá - một loại phân hữu cơ rất tốt cho cây trồng
Phân cá được sử dụng phổ biến tại các vùng trồng rau sạch (đặc biệt là rau hữu cơ - khi không được phép sử dụng phân bón hoá học). Phân cá không chỉ là nguồn đạm hữu cơ thay thế cho các dạng phân bón hoá học (NPK - đạm, lân, kali) mà còn cung cấp cho cây trồng các nguyên tố đa, trung và vi lượng thiết yếu.
Ảnh mình hoạ: Phân cá
OSG xin giới thiệu cách làm phân cá cho cây trồng:
(*) Nguyên liệu
- Phụ phẩm cá: đầu, ruột cá, cá vụn
- Rỉ đường
- Đất
- Thùng xốp, chậu vại sành, nhựa hoặc thủy tinh
(*) Cách làm
+ Trộn trực tiếp vào đất:
+ Đổ 1 lớp đất 1 lớp cá sau đó rắc 1-2 gr chế phẩm vi sinh (Tricoderma) hoặc 1 nắm vôi bột.
+ Tiếp tục lặp lại cho đển khi hết cá. Phía trên mặt thùng nên phủ lớp đất dày và rắc một ít vôi bột để tránh mùi hôi và dòi bọ. Mỗi thùng xốp cần khoảng 1-2kg cá.
(*) Phân cá:
- Phế phẩm cá băm nhỏ cho vào bình thủy tinh, nhựa, sành (tốt nhất là cho vào vại sành).
- Cho thêm rỉ đường (loại đường phế phẩm dùng ủ thức ăn cho gia súc) theo tỉ lệ 1:1 và đạy kín bình.
- Đặt bình dinh dưỡng nơi mát mẻ, tránh bị nước mưa chảy vào. Ủ khoảng 1 tháng là có thể sử dụng được. Khi sử dụng chắt nước cá ngâm pha với nước tỷ lệ 0,5-1% phun hoặc tưới. Dung dịch này khi tưới sẽ có mùi hơi tanh.
Cách làm này có thể áp dụng với các nguyên liệu rác thải hữu cơ từ nhà bếp như: cuộng rau, vỏ củ quả thừa, vỏ trứng, xương (trừ các đồ mặn) …
(*) Nguyên liệu
- Phụ phẩm cá: đầu, ruột cá, cá vụn
- Rỉ đường
- Đất
- Thùng xốp, chậu vại sành, nhựa hoặc thủy tinh
(*) Cách làm
+ Trộn trực tiếp vào đất:
+ Đổ 1 lớp đất 1 lớp cá sau đó rắc 1-2 gr chế phẩm vi sinh (Tricoderma) hoặc 1 nắm vôi bột.
+ Tiếp tục lặp lại cho đển khi hết cá. Phía trên mặt thùng nên phủ lớp đất dày và rắc một ít vôi bột để tránh mùi hôi và dòi bọ. Mỗi thùng xốp cần khoảng 1-2kg cá.
(*) Phân cá:
- Phế phẩm cá băm nhỏ cho vào bình thủy tinh, nhựa, sành (tốt nhất là cho vào vại sành).
- Cho thêm rỉ đường (loại đường phế phẩm dùng ủ thức ăn cho gia súc) theo tỉ lệ 1:1 và đạy kín bình.
- Đặt bình dinh dưỡng nơi mát mẻ, tránh bị nước mưa chảy vào. Ủ khoảng 1 tháng là có thể sử dụng được. Khi sử dụng chắt nước cá ngâm pha với nước tỷ lệ 0,5-1% phun hoặc tưới. Dung dịch này khi tưới sẽ có mùi hơi tanh.
Cách làm này có thể áp dụng với các nguyên liệu rác thải hữu cơ từ nhà bếp như: cuộng rau, vỏ củ quả thừa, vỏ trứng, xương (trừ các đồ mặn) …
Tài liệu tham khảo:
- rausach.com.vn
- nongnghiep.com.vn
- nonghoc.com
- agriviet.org
- osg.vn
- vietlinh.com.vn























Thống Kê :