Bạn đang ở »
Home
» Posts filed under
Tin-tức
Nhận biết một số hoa đực - cái và hiện tượng thụ phấn ở thực vật
Với bà con nông dân, hàng ngày bán mặt cho đất bán lưng cho trời thì vấn đề này không phải xa lạ gì. Chuyện này không phải bàn đến nữa vì nó quá dễ, đương nhiên ai trồng rau màu thường xuyên đều biết. Do vậy, bài viết này chỉ nhằm mục đích giới thiệu cho những ai trồng rau màu lần đầu, nghe đến những khái niệm về rau màu còn ú ớ chưa hình dung ra được.
Hoa của cây ăn quả nói chung và cây rau màu nói riêng có 2 kiểu hoa là hoa lưỡng tính và hoa đơn tính, thụ phấn nhờ gió hoặc sâu bọ. Đa phần những hoa thụ phấn nhờ gió là hoa lưỡng tính, còn hoa đơn tính thụ phấn nhờ sâu bọ như ong, kiến, bướm...
Các nguyên tắc chính về sử dụng thuốc trừ sâu an toàn trên cây rau
![]() |
| Trồng rau không thể không thể không phun thuốc |
Rau là loại cây trồng có nhiều sâu bệnh gây hại nhất và cũng là nông sản dễ bị ô nhiễm dư lượng thuốc trừ sâu nhất.
Hướng dẫn nhận biết rau củ quả sạch, an toàn
Điều đáng nói là hầu hết các mặt hàng rau - củ - quả (RCQ) ở các chợ đầu mối, thậm chí cả trong các siêu thị ở TP.HCM đều có tồn dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV). Đây là một thực trạng rất đáng lo ngại cho sức khỏe của người tiêu dùng.
Tiêu chuẩn quốc tế quả đu đủ tươi thương mại
Tiêu chuẩn quốc tế quả đu đủ tươi thương mại
![]() |
| Quả đu đủ |
Để tạo thuận lợi cho việc buôn bán đu đủ tươi trên thế giới và phục vụ người tiêu dùng, Tổ chức Y tế thế giới (FAO) đã xây dựng và công bố tiêu chuẩn quốc tế quả đu đủ tươi thương mại. Tiêu chuẩn này thuộc giai đoạn sau gia công và bao gói quả đu đủ và dùng cho đu đủ ăn tươi. Đu đủ dùng trong công nghiệp chế biến không thuộc tiêu chuẩn này. Tiêu chuẩn chất lượng.
Rau bị ngộ độc vì sao?
Rau bị ngộ độc vì sao?
Rau độc => Người ăn rau độc, gia súc ăn rau cũng độc => Bệnh tật => Chết.
Thật kinh khủng. Chúng ta cùng tìm nguyên nhân qua bài viết sau đây
Một số bài thuốc từ mướp đắng tốt cho người tiểu đường
1. Đặc tính sinh học của mướp đắng
- Mướp đắng hay còn gọi là khổ qua, tên khoa học là: Momordica charantia L thuộc họ Hồ lô (Cucurbitaceae). Theo Đông y, mướp đắng có tính hàn, vị đắng, không độc, vào kinh tâm, tỳ, vị, can, phế. Mướp đắng có tác dụng thanh nhiệt tả hoả, giải thử, thanh can minh mục, giải độc.
- Mướp đắng dùng trong các trường hợp trúng nắng, sốt nóng, mất nước, hội chứng lỵ, viêm nhiễm đường sinh dục, tiết niệu, mụn nhọt, viêm kết mạc cấp và mạn tính. Ngoài ra, khổ qua còn có tác dụng kiện tỳ, tả tâm hoả, nhuận phế vệ, dùng thường xuyên giúp tinh thần thư thái, an thần, giảm stress, giúp da dẻ mịn màng ngăn ngừa và chữa các căn bệnh về da, đặc biệt công năng kiện tỳ, thúc đẩy chuyển hoá của chất charatin, polypenptid-P và vicine trong khổ qua giúp cơ thể ức chế sự chuyển hoá và hấp thụ đường trong cơ thể, ngăn ngừa căn bệnh đái tháo đường và ổn định đường huyết ở người tiểu đường.
Nhu cầu cải tạo và những lưu ý khi cải tạo vườn trồng rau
1. Nhu cầu cải tạo vườn
Mỗi gia đình, để có được một mảnh vườn với đầy đủ các loại rau, quả cho năng suất cao, phẩm chất tốt, đáp ứng cho nhu cầu hàng ngày của gia đình và có dư thừa để bán tăng thu nhập. Người làm vườn cần phải biết cách lập và cải tạo vườn.
Mô hình vườn rau gia đình - Ảnh: minh hoạ
|
Bài viết dưới đây trình bày một số vấn đề cần lưu ý:
- Cần xác định được những loại cây trồng chính trong vùng. Dựa trên điều kiện tự nhiên như đất đai, địa hình, khí hậu... để bố trí cây trồng trong vườn sao cho thích hợp.
- Chọn giống thích hợp, giống tốt, sạch bệnh để trồng.
- Kiểm tra độ màu mỡ, phì nhiêu của đất vườn.
- Tiến hành tỉa bỏ những cây có tán lớn, ra quả ít, giá trị kinh tế thấp.
- Thực hiện biện pháp luân canh, xen canh đa dạng cây trồng để tiết kiệm diện tích và tận dung tối đa đất trồng.
- Mục đích sử dụng sản phẩm từ cây trồng khi thu hoạch...
2. Cách cải tạo vườn.
Khi tiến hành cải tạo vườn, cần xem xét các yếu tố như: đất, nước, phân bón, giống cây trồng và các biện pháp canh tác, bảo vệ thực vật, để từ đó đưa ra các phương pháp, cách thức cải tạo sao cho phù hợp và đạt hiệu quả cao nhất.
2.1. Đất
Trong trồng trọt, đất được coi là nền tảng của cây trồng, đất nào cây ấy. Vì vậy, phải biết cải tạo và sử dụng đất, chọn cây trồng thích hợp với đất, biết thâm canh để cải tạo vườn rau.
Việt Nam là một nước nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, thuận lợi cho trồng rau với nhiều chủng loại rất đa dạng, phong phú như: rau ăn củ, ăn quả, rau ăn lá, ăn hoa, rau gia vị, rau làm thuốc... Mỗi một loại rau có thời gian sinh trưởng và phát triển khác nhau, có loại ngắn ngày, có loại dài ngày, có loại trồng một lần cho thu hoạch nhiều năm.
Môi trường sinh sống của mỗi loại rau cũng khác nhau, có loại rau sống ở những nơi có nước liền chân, có loại rau sống ở trên đất cao ráo, có loại thân bò trên mặt đất và có loại thì thân leo... Nhưng với bất kỳ một loại rau nào, người trồng rau phải biết được đặc tính sinh học và yêu cầu ngoại cảnh của nó để có cách thức trồng và canh tác sao cho hợp lý.
Yêu cầu đối với đất trồng rau phải là đất tốt, nhiều màu, tầng đất canh tác dày, thoát nước nhanh và có khả năng thấm nước cao (đối với rau trồng cạn), giữ được nước liền chân (đối với rau trồng ở nước).
Đất trồng vụ này sang vụ khác, cùng với sự tác động của tự nhiên, đất đai bị bạc màu, rửa trôi... vì thế phải tiến hành cải tạo dất, để có đất tốt thích hợp trồng rau.
![]() |
| Cải tạo đất - Ảnh minh hoạ |
* Cải tạo đất
Với đất cát khó giữ ẩm, mùa khô hạn cây dễ bị chết, cần bố trí cây trồng thích hợp và tăng lượng phân hữu cơ (đặc biệt là phân chuồng hoai mục).
Với đất nặng, nhiều sét, cần thêm đất cát pha, đất phù sa và bón nhiều phân hữu cơ.
Với đất nhẹ, bón phân hữu cơ, bùn ao phơi khô và đập vụn.
Với đất chua mặn, bón nhiều phân hữu cơ, vôi bột và phân N, P, K hợp lý.
Với đất gò, đồi dốc, tiến hành san đất, tạo thành ruộng bậc thang.
Trong đất có nhiều sỏi, đá,... cần phải được nhặt bỏ, diệt trừ cỏ dại tận gốc, tạo mặt bằng trong vườn để dễ trồng và tiện chăm sóc. Cần phải được lên luống đều và thẳng.
2.2. Nước
Cẩn phải đảm bảo nguồn nước để tưới cho cây. Đối với những gia đình có vườn ở gần sông, suối, kênh, mương thì vấn đề nước không đáng lo ngại. Nhưng đối gia đình ở xa nguồn nước, cần phải tạo lập nguồn nước bằng cách đào ao để dự trữ nước tưới cây và còn giữ ẩm cho đất.
![]() |
| Chăm sóc cây - tưới nước bằng vòi phun mưa - Ảnh minh hoạ |
Cây rau trong suốt thời gian sinh trưởng và phát triển luôn cần một lượng nước nhất định để giúp cho việc hút chất dinh dưỡng nuôi cây và quang hợp tốt. Tuy nhiên trong quá trình tưới nước cần nắm bắt được từng giai đoạn phát triển của cây, để có chế độ tưới nước thích hợp. Thừa nước hay thiếu nước, cây sẽ phát triển không bình thường, thậm chí có thể bị chết.
Yêu cầu nước tưới phải sạch, không chua mặn. Đối với cây rau ăn lá, nên tưới theo kiểu phun mưa bằng bình tưới có gương sen, còn đối với rau ăn quả thì tưới vào gốc.
Thông thường, sau khi gieo hạt và lấp lên trên hạt giống rau một lớp đất bột mỏng hay là sau khi trồng cây giống, cần phải tưới nước để đảm bảo cho hạt nảy mầm, cây bén rễ được tốt.
Những đêm có sương muối, sáng ra phải tưới nước lên lá để rửa sương muối, đảm bảo cho cây phát triển tốt.
Tưới cây nên tưới vào buổi sáng sớm hoặc xế chiều. Chú ý với từng loại đất, mức độ thấm hút nước và giữ nước là khác nhau.
Tưới nước cho cây cũng đòi hỏi những cách thức cụ thể hợp lý. Tưới nước nhiều cây bị ngập úng, tưới ít nước thì không đảm bảo cho cây sinh trưởng và phát triển. Công cụ để tưới cũng cần phải lựa chọn, tránh làm rửa trôi lớp đất màu mỡ, phì nhiêu khi tưới nước.
2.3. Phân bón
Trong quá trình cải tạo vườn, luôn luôn phải chú ý tới phân bón. Bón phân cho cây trồng nhằm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm của cây tồng. Nhưng phải bón sao cho hợp lý, không ảnh hưởng đến đất đai và những vụ canh tác về rau.
![]() |
| Tự sản xuất phân bón hữu cơ - Ảnh: Baodaclac |
* Bón phân hợp lý.
Là việc sử dụng năng lượng phân bón thích hợp bón cho cây đảm bảo tăng năng suất cây trồng với hiệu quả kinh tế cao nhất, không để lại hậu quả xấu lên nông sản và môi trường sinh thái. Để bón phân hợp lý, người làm vườn cần nắm bắt được những vấn đề cơ bản sau:
- Bón phân đúng lúc, đúng loại:
Cây trồng trong thời gian sinh trưởng và phát triển có những thời điểm cần lượng phân và loại phân khác nhau. Vì vậy, cần phải bón đúng lúc, đúng loại mới đem lại hiệu quả cao. Bón phân không nên bón tập trung trong một thời điểm, mà cần phải chia ra làm nhiều giai đoạn. Đối với giai đoạn cây sinh trưởng và phát triển mạnh, cần bón với lượng phân nhiều hơn. Bón phân với nồng độ và liều lượng quá cao, cây không thể sử dụng hết, lượng phân sẽ bị hao hụt nhiều và có thể gây ra nhiều tác hại xấu đối với đất đai, cây trồng.
Hiện nay, có rất nhiều loại phân bón. Nhưng không phải cây nào, giai đoạn nào cũng có thể bón được. Cho nên trước khi bón cần căn cứ vào đặc tính, giống cây, đất đai... có như vậy mới phát huy được hiệu quả của việc bón phân.
Thời tiết, mùa vụ có ảnh hưởng đến hiệu quả của phân bón. Vì vậy, khi tiến hành bón phân cần phải căn cứ vào thời tiết, mùa vụ.
Nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa và có sự phân hoá: Bắc - Nam, theo mùa, theo độ cao. Đối với những loại cây trồng ngắn ngày, một năm có thể sản xuất được nhiều vụ. Tuy vậy, mỗi vụ cây trồng lại có đặc điểm sinh trưởng và phát triển khác nhau, nhu cầu đối với tác động của từng yếu tố dinh dưỡng cũng khác nhau. Chính vì thế cần phải lựa chọn phân bón và bón đúng thời tiết, mùa vụ mới đạt hiệu quả.
Ví dụ: Bón phân vào thời điểm có lượng mưa lớn, mưa nhiều, rất dễ bị rửa trôi, gây lãng phí. Bón phân vào thời điểm nắng gắt cùng với sự tác động của các hạt phân bón có thể gây cháy lá, hỏng hoa, quả...
- Bón phân đúng cách:
Có nhiều cách thức bón phân: bón vào hố, vào rãnh, rải trên mặt đất, bón lót, bón thúc (thúc đẻ nhánh, thúc ra hoa, thúc kết trái, thúc mẩy hạt...). Trước khi bón cần căn cứ vào diện tích, kích thước luống, giống cây trồng, đất trồng... để có cách thức bón phân hợp lý.
Bón phân là khâu quan trọng không thể thiếu được đối với người làm vườn. Nên phải có cách thức bón phân hợp lý, cây trồng mới cho năng suất cao.
- Bón phân cân đối:
Cây trồng trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển có những nhu cầu dinh dưỡng khác nhau, sống trên các loại đất khác nhau cũng có nhu cầu về chất dinh dưỡng khác nhau. Các nguyên tố dinh dưỡng cho cây trồng cần phải được cân đối hợp lý, các loại nguyên tố ảnh hưởng dư thừa cũng không thể thay thế nguyên tố thiếu hụt khác.
Trong việc cải tạo vườn gia đình, bón phân cân đối giúp cho việc ổn định và cải thiện độ phì nhiêu của đất, bảo vệ đất, chống rửa tổi, xói mòn. Bên cạnh đó còn tăng năng suất, chất lượng của sản phẩm cây trồng, nâng cao hiệu quả của phân bón và các biện pháp kỹ thuật canh tác khác. Bảo vệ tốt nguồn nước, khí thải độc hại gây ô nhiễm môi trường.
- Xử lý trước khi đem bón:
Trong việc cải tạo đất trồng và chăm sóc cây trồng không thể thiếu phân chuồng. Nó làm tăng độ màu mỡ, phì nhiêu cho đất và nâng độ dày tầng đất canh tác, giữ và bảo đảm chất dinh dưỡng lâu bền nuôi cây. Bởi vậy, khi cải tạo vườn và trồng trọt phải sử dụng phân chuồng. Nhưng phân chuồng trước khi đem sử dụng cần phải được xử lý bằng cách phương pháp thông thường như sau:
+ Ủ phân: Là biện pháp cần thiết trước khi đem phân ra bón vườn. Vì trong phân chuồng tươi có lẫn hạt cỏ dại, nhiều kén nhộng, côn trùng, nhiều bào tử ngủ nghỉ của nấm, xạ khuẩn và tuyến trùng gây bệnh.
Ủ phân có tác dụng sử dụng nhiệt độ cao trong quá trình phân huỷ chất hữu cơ để tiêu diệt cỏ dại và mầm mống bệnh sâu bệnh, côn trùng vừa thúc đẩy quá trình phân huỷ chất hữu cơ. Ủ phân làm cho trọng lượng phân chuồng giảm xuống, nhưng chất lượng lại tăng lên. Sau quá trình ủ phân, người làm vườn thu được phân ủ (phân hữu cơ). Trong phân ủ có mùn, một phần chất hữu cơ chưa được phân huỷ, muối khoảng, các sản phẩm trung gian của quá trình phân huỷ, có một lượng Enzym, chất kích thích và các loài vi sinh vật hoại sinh.
+ Phương pháp ủ nóng:
Bước 1: Phân gia súc mới thải ra, đem bỏ vào bể, hố chứa đã xây dựng sẵn, có nền không thấm nước (không được nén). Sau đó tưới nước phân lên và giữ độ ẩm trong đống phân 60 - 70%.
Bước 2: Trộn từ 1 - 2% supe lân để giữ đạm.
Bước 3: Lấy bùn ao phủ bên ngoài đống phân.
Bước 4: Hàng ngày tưới nước phân lên đống phân.
Ưu điểm: Ủ nóng có tác dụng tiêu diệt hạt cỏ dại, loại trừ các mầm mống gây bệnh. Ủ phân sau 30 - 40 ngày có thể sử dụng được.
+ Phương pháp ủ nguội.
Bước 1: Phân gia súc thải ra, đem xếp thành lớp và nén chặt.
Bước 2: Trên mỗi lớp phân chuồng, rắc khoảng 2 % phân lân.
Bước 3: Lấy đất bùn phơi khô đập nhỏ hoặc đất bột phủ lên và nén chặt.
Lưu ý:
Chiều cao, chiều dài và chiều rộng của đống phân phụ thuộc vào lượng phân chuồng có sẵn nên khi xếp phân xong, lấy bùn ao phủ bên ngoài đống phân.
Sau khoảng thời gian 5 - 6 tháng, phân có thể sử dụng được. Phân ủ bằng phương pháp ủ nguội cho chất lượng tốt hơn khi phân ủ nóng.
Ngoài 2 phương pháp ủ phân trên đây, còn có phương pháp ủ nóng trước, ủ nguội sau, những phương pháp này tốn nhiều công đoạn. Hơn nữa với vườn gia đình, sử dụng phương pháp ủ nóng hay ủ nguội là được.
Nguồn:
Theo Hà Thị Hiến
Một số lưu ý khi chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh cho cây rau
1. Chăm sóc cây rau:
Hạt giống rau trước khi đem gieo phải thử sức nảy mầm của hạt và phải được xử lý bằng cách ngâm nước nóng, nước tro bếp nhằm tiêu độc, kích thích hạt mau nẩy mẩm.
| Một biện pháp chăm sóc cho rau: tưới nước - Ảnh: Laocai |
Trộn hạt với tro bếp, gieo đi gieo lại 2-3 lần, khi gieo phải đều tay để hạt phân rải đều trên mặt đất. Hạt giống gieo xong nên phủ trấu hoặc rơm rạ lên trên mặt luống để khi tưới nước không nhấn chìm hạt giống vào sâu trong đất. Rơm rạ trước khi phủ có thể băm nhỏ thành từng đoạn dài 4-5 cm, để sau này khỏi phải dỡ và tránh được gãy mầm. Nếu làm mái che, khi hạt nảy mầm nhô lên khỏi mặt đất thì phải mở mái che, cho đủ ánh sáng để cây được mập khoẻ.
Cây rau sau khi trồng độ 15-20 ngày, tiến hành làm cỏ kết hợp với xới xáo, vun gốc, phủ váng đất. Xới xáo đất có tác dụng làm cho đất tơi xốp, thoáng khí, phá vỡ đoạn đầu những ống dẫn nước nhỏ li ti từ dưới sâu lòng đất lên mặt đất, nhằm hạn chế nước bốc hơi nhiều, giảm khô hạn.
Phá váng là dùng cuốc băm nhỏ những mảnh đất mỏng, váng được tạo thành sau những trận mưa rào, rồi nắng to.
Các loại rau ăn quả như: cà chua, bí xanh, dưa chuột... phải được bấm ngọn, vặt bớt lá già, úa ở phần gốc, tỉa định cây để tiếp tục chăm sóc. Đối với các loại rau thân leo, cần phải được làm giàn để cây leo và thả quả xuống giàn, để quả không bị vẹo, quả thẳng đều và đẹp.
2. Phòng trừ sâu bệnh:
Cây rau cũng giống như các loại cây trồng khác, khi phát hiện sâu bệnh gây hại, cần tiến hành diệt trừ ngay.
Để phòng trừ sâu bệnh hiệu quả, trước hết phải dùng các phương pháp canh tác như: cày, cuốc kỹ, phơi đất ải trắng, làm vệ sinh vườn, nhặt bỏ rác rưởi, cỏ dại, cành lá úa khô, những cành lá thân bị nhiễm bệnh.
Cần chú ý phát hiện bệnh và mô tả bệnh chính xác, sau đó tới các trạm bảo vệ thực vật, quầy thuốc thú y xin ý kiến rồi tiến hành mua thuốc về phun.
Thu hoạch sau khi thuốc đã phân huỷ 20 - 30 ngày, tuỳ từng loại thuốc. Khi ăn phải được ngâm trong nước rửa pha muối. Đối với rau ăn củ, khi thấy củ nảy mầm nên bỏ đi (đặc biệt là khoai tây, bởi khi củ mọc mầm tạo ra nhiều chất gây độc trong mầm, trong củ.
Nếu bạn thấy thông tin trên website này hữu ích với bạn hãy like hoặc để lại comment trên bài viết để giúp website phát triển cũng là để thông tin hữu ích dễ dàng tiếp cận được với độc giả khác. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn.
Nếu muốn theo dõi thông tin thường xuyên và theo cách dễ dàng hơn, hãy trở thành fan của chúng tôi để trở thành độc giả thân thiết. Cảm ơn.
Trồng dưa leo đạt năng suất cao
Để trồng dưa leo đạt năng suất và chất lượng cần chú ý một số vấn đề sau:
1.Thời vụ:
![]() |
| Trồng dưa leo (dưa chuột) trên ruộng |
Dưa leo chỉ cho năng suất cao ở mùa vụ có nhiệt độ cao, nếu cùng giống đó mà trồng ở mùa vụ có nhiệt độ thấp thì năng suất thấp hơn nhiều.
2.Thụ phấn:
Dưa leo là cây thụ phấn chéo nhờ côn trùng, vì vậy tỷ lệ hoa đực và cái, số lượng ong hay các côn trùng ăn phấn hoa khác là những yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến năng suất. Để quá trình thụ phấn đảm bảo và tránh hiện tượng trái nhỏ và biến dạng, nông dân nên tạo điều kiện cho các loại côn trùng tự nhiên như ong, ruồi ăn mật hoa sinh sống, không nên phun thuốc BVTV gần tổ ong hay gần nơi ong hoạt động (từ sáng sớm đến đầu giờ chiều).
3.Nước:
Thiếu nước có ảnh hưởng rõ rệt đến quá trình sinh hóa và sinh lý của cây dưa leo. Nếu độ ẩm đất thấp, quá trình vận chuyển nước giảm, do đó làm suy yếu khả năng giữ nước và chứa nước. Sự thiếu nước thường làm giảm sự phát triển sinh dưỡng và sinh thực, quang hợp, hô hấp, hấp thu ion và trao đổi chất. Nó còn có thể làm cho cây trở nên mẫn cảm với côn trùng và bệnh hại. Khô hạn xảy ra trước khi ra hoa có thể làm chậm ra hoa, làm giảm sự phát triển của cây, biến đổi giới tính của hoa (hoa cái thành hoa đực). Thiếu nước xảy ra trong quá trình phát triển trái sẽ làm giảm năng suất và chất lượng trái. Trong lá của hầu hết các giống dưa leo đều có chứa hợp chất cucurbitacins. Hợp chất này sẽ tiết ra chất độc để giúp cây chống lại các loài sâu hại. Trong giai đoạn tạo trái, thiếu nước sẽ làm cho trái bị đắng (những trái này chỉ làm giảm chất lượng của trái, không gây hại cho sức khỏe người ăn). Để tránh hiện tượng này, nên đảm bảo tưới đủ nước cho cây trong quá trình tạo trái. Ngoài ra, thiếu nước trái nhỏ và mềm so với bình thường, hàm lượng các chất dinh dưỡng chứa trong trái như đường, khoáng chất, vitamin cũng sẽ bị thấp đi. Dưa leo là cây ưa ẩm, đòi hỏi tương đối nhiều nước. Sau khi trồng cây con ra ruộng, nếu trời nắng yêu cầu phải tưới đủ nước, có thể tưới 2 lần/ngày. Tưới nước hợp lý có thể là yếu tố quyết định năng suất cao và chất lượng tốt. Những đất có đủ chất hữu cơ thường có khả năng giữ nước lớn và không cần phải tưới nước thường xuyên. Đất nhẹ cần tưới thường xuyên hơn, nhưng mỗi lần tưới ít hơn. Tuy nhiên, cần chú ý thừa nước sẽ làm rễ bị hư thối, cây dưa sẽ bị vàng và còi cọc.
4.Làm giàn và tỉa nhánh:
Dưa leo phát triển thân lá và các tua cuốn dài nhanh trong 2 tuần đầu sau khi trồng. Làm giàn và tỉa nhánh đúng kỹ thuật làm tăng năng suất, kích thước trái, làm giảm sâu bệnh, thuận tiện cho việc chăm sóc và thu hoạch. Khi cây cao khoảng 30cm và có tua cuốn nên tiến hành làm giàn. Tỉa nhánh: Dưa leo phát triển nhiều nhánh phía trong luống và những nhánh này không hình thành trái. Để tăng năng suất cần phải tỉa bỏ những nhánh phụ tới khi thân chính bò lên gần tới đỉnh giàn. Nên để 4-6 nhánh phụ trên một cây và ngắt bỏ chồi của thân chính để cây phát triển ra hoa trái sớm. Loại bỏ các nhánh phụ bắt đầu từ đốt thứ 10.
5.Nhu cầu dinh dưỡng:
Dưa leo rất mẫn cảm với nồng độ phân cao nhưng lại nhanh chóng phản ứng với hiện tượng thiếu dinh dưỡng. Dưa leo sử dụng phân kali nhiều nhất, kế đến là phân đạm và lân. Đạm thúc đẩy quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và tạo trái của cây dưa leo. Nếu lượng đạm cao và mật độ trồng dày hoặc không đủ ánh sáng thì dưa sẽ cho ít trái, nếu thiếu đạm cây còi cọc. Phân lân có tác dụng kích thích sự sinh trưởng của rễ, nhánh phụ, hoa, trái và hạt. Thiếu lân, rễ phát triển kém, trái ít. Phân kali ảnh hưởng đến kích thước trái và chất lượng trái. Đủ kali có tác dụng làm giảm số lượng trái dị dạng. Tăng cường bón phân hữu cơ vì phân hữu cơ rất tốt cho sự phát triển dưa leo.
6.Tổng kết:
Tóm lại để trồng dưa leo đạt năng suất và chất lượng cao, đòi hỏi người trồng cần phải quan tâm chăm sóc ngay từ khâu gieo hạt đến ra hoa kết trái, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của cây.
Nguồn:
Cherry tomato - vuonrauxanh.com
Tìm hiểu về cây rau ngải cứu
1. Giới thiệu:
Ngải cứu còn gọi là ngải diệp, tên khoa học là Artemisia vulgaris L. thuộc họ cúc. Quanh năm đều có ngải cứu nhưng tốt nhất là hái cành và lá vào tháng 6 (gần tương ứng với mồng 5 tháng 5 âm lịch), phơi khô trong râm mát.
Có khi hái về phơi khô, tán nhỏ, rây lấy phần lông trắng và tơi gọi là ngải nhung, dùng làm mồi cứu để kích thích huyệt trong phương pháp châm cứu. Ngải cứu có tính ôn, hơi cay, dùng điều trị đau bụng kinh, kinh nguyệt không đều, động thai, thổ huyết...
Có thể dùng toàn bộ phần trên mặt đất của cây. Có thể dùng tươi hoặc phơi khô để sử dụng. Ngải cứu có mùi thơm, vị đắng, tính ấm đi vào 3 kinh là can, tỳ, phế. Ngải cứu có tác dụng điều hòa khí huyết, trừ thống, cầm máu, giảm đau...
Có khi hái về phơi khô, tán nhỏ, rây lấy phần lông trắng và tơi gọi là ngải nhung, dùng làm mồi cứu để kích thích huyệt trong phương pháp châm cứu. Ngải cứu có tính ôn, hơi cay, dùng điều trị đau bụng kinh, kinh nguyệt không đều, động thai, thổ huyết...
Có thể dùng toàn bộ phần trên mặt đất của cây. Có thể dùng tươi hoặc phơi khô để sử dụng. Ngải cứu có mùi thơm, vị đắng, tính ấm đi vào 3 kinh là can, tỳ, phế. Ngải cứu có tác dụng điều hòa khí huyết, trừ thống, cầm máu, giảm đau...
![]() |
| Cây ngải cứu - Ảnh: vnwordpress.com |
2. Công dụng của ngải cứu:
- Điều kinh:
Là công dụng quan trọng nhất, điều trị kinh nguyệt không đều, kinh nguyệt nhiều, đau bụng kinh (thống kinh).
- Cầm máu:
- Cầm máu:
Những trường hợp ho ra máu, nôn ra máu, trĩ ra máu và đặc biệt là các trường hợp có thai ra máu thì thường dùng ngải cứu để chữa trị.
- Giảm đau:
- Giảm đau:
Dùng trong các trường hợp phong tê thấp, đau nhức xương cơ khớp.
- Trị mụn nhọt:
- Trị mụn nhọt:
Những trường hợp ngứa, vàng da,.. Lá ngải cứu tươi giã nát, đắp lên mặt, để khoảng 20 phút, rồi rửa lại mặt, làm liên tục sẽ cho bạn làn da mịn màng và trắng hồng.
Tuy nhiên, tùy mục đích sử dụng mà cách chế biến ngải cứu khác nhau. Trong trường hợp dùng để điều kinh thì cần phối hợp ngải cứu với các dược liệu khác như ích mẫu,... Nếu dùng để cầm máu thì ngải cứu phải chế biến bằng cách sao đen mới có tác dụng.
Nếu ngải cứu làm mồi trong châm cứu thì chế ngải nhung bằng cách dùng bột lá phơi khô và cuốn thành mồi ngải (mồi ngải trong đông y).
Ngải cứu vừa là cây thuốc, vừa là cây rau có thể ăn hàng ngày. Theo TS Lê Thị Kim Loan cho biết, tất cả các dược liệu họ cúc đều có tác dụng kháng khuẩn, có tinh dầu... cho nên có tác dụng chữa mụn nhọt rất hiệu quả.
Tuy nhiên, tùy mục đích sử dụng mà cách chế biến ngải cứu khác nhau. Trong trường hợp dùng để điều kinh thì cần phối hợp ngải cứu với các dược liệu khác như ích mẫu,... Nếu dùng để cầm máu thì ngải cứu phải chế biến bằng cách sao đen mới có tác dụng.
Nếu ngải cứu làm mồi trong châm cứu thì chế ngải nhung bằng cách dùng bột lá phơi khô và cuốn thành mồi ngải (mồi ngải trong đông y).
Ngải cứu vừa là cây thuốc, vừa là cây rau có thể ăn hàng ngày. Theo TS Lê Thị Kim Loan cho biết, tất cả các dược liệu họ cúc đều có tác dụng kháng khuẩn, có tinh dầu... cho nên có tác dụng chữa mụn nhọt rất hiệu quả.
(*) Cách sử dụng:
- Sắc làm thuốc uống
- Làm rau ăn, đặc biệt hợp với lẩu gà.
- Ép lấy nước uống.
3. Một số thắc mắc về sử dụng ngải cứu
- Sinh con nên ăn trứng gà ngải cứu?
Điều này hoàn toàn đúng bởi vì trứng gà ngải cứu có tác dụng điều hòa khí huyết rất tốt, nhất là đối với những bà mẹ sau sinh. Tuy nhiên, ngải cứu có tính nóng, vì vậy thời gian ăn bao lâu phải tùy thuộc vào cơ thể mỗi người. Không nên ăn quá dài ngày, có thể gây táo bón.
- Sinh con nên ăn trứng gà ngải cứu?
Điều này hoàn toàn đúng bởi vì trứng gà ngải cứu có tác dụng điều hòa khí huyết rất tốt, nhất là đối với những bà mẹ sau sinh. Tuy nhiên, ngải cứu có tính nóng, vì vậy thời gian ăn bao lâu phải tùy thuộc vào cơ thể mỗi người. Không nên ăn quá dài ngày, có thể gây táo bón.
- Ngải cứu tốt cho phụ nữ mang thai?
Có hai trường hợp, nếu mang thai và thai phát triển bình thường: Không nên dùng bất kỳ dược liệu nào, đặc biệt là ngải cứu nhất là thời kỳ 3 tháng đầu mang thai càng không nên dùng ngải cứu.
Trường hợp động thai: Tốt nhất đến bác sĩ chuyên khoa để tìm hiểu nguyên nhân. Tuy nhiên, trong trường hợp động thai có ra ít máu, bạn có thể dùng ngải cứu và khi đi ngải cứu phải được chế biến bằng cách sao cháy (ngải thán), sau đó vẩy một chút nước vào cho hết hỏa độc và sắc lên uống. Tuy nhiên, cũng cần phải thận trọng khi uống và tốt nhất đi khám bác sĩ chuyên khoa để được điều trị đúng và kịp thời.
4. Các món ăn từ ngải cứu
- Trứng gà ngải cứu: giúp lưu thông máu lên não, trị bệnh đau đầu.
Trứng gà ngải cứu - món ăn quen thuộc bổ dưỡng của nhiều gia đìn
- Canh ngải cứu nấu thịt nạc: Bài thuốc chữa các bệnh của phụ nữ (kinh nguyệt không đều, khí hư, đau bụng do lạnh...). Thịt nạc heo băm nhỏ, ướp hạt nêm, xào qua, nêm nước, đun sôi cho rau ngải cứu. Canh sôi đều, nêm hạt nêm vừa miệng, ăn nóng.
- Trứng gà tráng ngải cứu giúp lưu thông máu lên não trị bệnh đau đầu. Lấy một nắm lá ngải cứu, xắt nhỏ, đánh tan đều với 1 quả trứng gà, nêm hạt nêm vừa miệng, đổ vào chảo chiên chín.
- Gà tần ngải cứu: Bồi bổ sức khỏe, hoạt huyết, xương cốt dẻo dai: 1 con gà đen khoảng 500gr, 3 trái táo đỏ, ý dĩ, kỷ từ, 3 lát sâm ta, ngải cứu, hạt sen, tam thất, hạt nêm. Gà làm sạch, mổ moi, nhồi tất cả các nguyên liệu vào trong gà, cho gà vào nồi, đổ săm sắp nước, nêm hạt nêm vừa miệng, tần cho đến khi gà mềm nhừ.
- Cháo ngải cứu có thể chữa động thai hoặc giảm đau thấp khớp. Cách nấu : lá ngải cứu tươi 50g, gạo tẻ 100g, đường đỏ vừa đủ (có thể cho thêm lá lốt). Thái nhỏ lá ngải cứu, nấu lấy nước để nấu cháo. Khi ăn cho đường vừa phải, ăn nóng. Chia 2 lần ăn sáng, trưa. Ăn liên tục 3 - 5 ngày. Minh Hải
Có hai trường hợp, nếu mang thai và thai phát triển bình thường: Không nên dùng bất kỳ dược liệu nào, đặc biệt là ngải cứu nhất là thời kỳ 3 tháng đầu mang thai càng không nên dùng ngải cứu.
Trường hợp động thai: Tốt nhất đến bác sĩ chuyên khoa để tìm hiểu nguyên nhân. Tuy nhiên, trong trường hợp động thai có ra ít máu, bạn có thể dùng ngải cứu và khi đi ngải cứu phải được chế biến bằng cách sao cháy (ngải thán), sau đó vẩy một chút nước vào cho hết hỏa độc và sắc lên uống. Tuy nhiên, cũng cần phải thận trọng khi uống và tốt nhất đi khám bác sĩ chuyên khoa để được điều trị đúng và kịp thời.
4. Các món ăn từ ngải cứu
- Trứng gà ngải cứu: giúp lưu thông máu lên não, trị bệnh đau đầu.
Trứng gà ngải cứu - món ăn quen thuộc bổ dưỡng của nhiều gia đìn
- Canh ngải cứu nấu thịt nạc: Bài thuốc chữa các bệnh của phụ nữ (kinh nguyệt không đều, khí hư, đau bụng do lạnh...). Thịt nạc heo băm nhỏ, ướp hạt nêm, xào qua, nêm nước, đun sôi cho rau ngải cứu. Canh sôi đều, nêm hạt nêm vừa miệng, ăn nóng.
- Trứng gà tráng ngải cứu giúp lưu thông máu lên não trị bệnh đau đầu. Lấy một nắm lá ngải cứu, xắt nhỏ, đánh tan đều với 1 quả trứng gà, nêm hạt nêm vừa miệng, đổ vào chảo chiên chín.
- Gà tần ngải cứu: Bồi bổ sức khỏe, hoạt huyết, xương cốt dẻo dai: 1 con gà đen khoảng 500gr, 3 trái táo đỏ, ý dĩ, kỷ từ, 3 lát sâm ta, ngải cứu, hạt sen, tam thất, hạt nêm. Gà làm sạch, mổ moi, nhồi tất cả các nguyên liệu vào trong gà, cho gà vào nồi, đổ săm sắp nước, nêm hạt nêm vừa miệng, tần cho đến khi gà mềm nhừ.
- Cháo ngải cứu có thể chữa động thai hoặc giảm đau thấp khớp. Cách nấu : lá ngải cứu tươi 50g, gạo tẻ 100g, đường đỏ vừa đủ (có thể cho thêm lá lốt). Thái nhỏ lá ngải cứu, nấu lấy nước để nấu cháo. Khi ăn cho đường vừa phải, ăn nóng. Chia 2 lần ăn sáng, trưa. Ăn liên tục 3 - 5 ngày. Minh Hải
Nguồn:
Theo Minh Hải - Vnmedia
Tìm hiểu về giá thể trồng cây
Với cách trồng cây truyền thống, chúng ta thường trồng cây trên môi trường đất. Có thể nói đất là môi trường chứa nước và các chất dinh dưỡng giúp cây hấp thụ, phát triển.
Ngày nay, ngoài việc dùng đất để trồng cây người ta còn sử dụng một phương pháp khác để trồng, đó là trồng cây trên giá thể. Đây thực chất là một kỹ thuật trồng cây không dùng đất mà cây được trồng trực tiếp trên các giá thể hữu cơ hay giá thể trơ cứng có tưới dung dịch dinh dưỡng.
Vậy giá thể là gì?
Giá thể là môi trường rắn cho rễ cây đâm xuống mà không phải là đất.
2. Các loại giá thể
Qua nghiên cứu nhiều năm, người ta đã tìm ra nhiều loại giá thể có thể được sử dụng trồng cây.
2.1. Giá thể hữu cơ tự nhiên
2.1.1. Than bùn
Than bùn được tạo thành từ xác loài thực vật khác nhau do quá trình thuỷ phân yếm khí.
![]() |
| Thành phần trong than bùn |
![]() |
| Than bùn trong thực tế |
Mùn cưa là phế phẩm trong sản xuất chế biến gỗ, có khả năng giữ ẩm tốt.
Thành phần: chủ yếu là xenlulo dễ phân huỷ.
Độ thông thoáng khí thấp
Khi dùng nên trộn với cát để phân phối độ ẩm tốt hơn
Tránh dùng mùn cưa từ các loại gỗ chứa nhiều tinh dầu, gỗ đã ngâm, gỗ tẩm thuốc bảo quản.
![]() |
| Giá thể mùn cưa |
Vỏ cây tươi, khô hoặc vỏ cây đã ủ đều được sử dụng làm giá thể.
Vỏ cây tươi chứa tanin, giữ ẩm kém nên 2 - 3 tuần đầu cây sinh trưởng kém.
![]() |
| Trồng cây từ giá thể bằng vỏ cây |
Xơ dừa được lấy từ vỏ quả dừa, nghiền nhỏ, đóng thành bánh để khô.
Thành phần: chủ yếu là xenlulo chiếm 80%, ngoài ra lignin chiếm 18% và các hợp chất khác như tanin... Do vậy khi sử dụng cần ngâm nước để hạn chế ảnh hưởng của tanin giúp cây phát triển tốt hơn.
Tính chất: Có khả năng giữ nước nhưng dễ gây úng.
![]() |
| Giá thể xơ dừa và chậu trồng cây với giá thể xơ dừa |
Là vỏ của hạt thóc đem chất đống hun đến độ có thể diệt hết mầm bệnh, vỏ trấu đã đen nhưng chưa thành tro.
Thành phần: Kali, silicat và các muối khoáng vi lượng..,
Thoát nước tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng.
![]() |
| Giá thể trấu hun dùng trồng rau mầm và cây |
2.2.1. Cát sỏi
Là loại giá thể trơ điển hình, dễ kiếm, rẻ tiền
Dùng cát có độ lớn của hạt từ 0,1 - 0,2 mm. Sỏi có độ lớn từ 1 - 5 cm.
Cần rửa sạch, khử trùng, sấy hay phơi khô trước khi dùng.
![]() |
| Giá thể và trồng cây trên giá thể Silicat |
Là dẫn xuất của núi lửa chứa silic.
Tính chất: Có khả năng tiêu nước, thông thoáng tốt.
Ổn đình về tính chất vật lý, có tính trơ hoá học.
Thành phần: Gồm 76,9% là Al, một phần nhôm được giải phóng ra ngoài làm pH giảm.
![]() |
| Perlite và trồng cây trên giá thể Perlite |
Là những chất liệu hữu cơ nhân tạo, có tính trơ hoá học
Ví dụ như polystyrene xốp, bọt ureaformaldehyt, polyurethane, chất bọt có gốc Phenol ở dạng hạt.
Giá thể Vermiculite
Tính chất: Là vật liệu nhẹ, có tính kiềm, giữ nước tốt.
Thành phần:
![]() |
| Thành phần giá thể hữu cơ tổng hợp |
![]() |
| Giá thể tổng hợp |
Dung dịch dinh dưỡng gồm tất cả các nguyên tố đa lượng và vi lượng
Một số dung dịch dinh dưỡng thường dùng: Knop, Fao, Steiner
2.4. Một số giá thể phối trộn khác
Hỗn hợp: 1/3 phân chuồng + 1/3 đất cát + 1/3 chất hữu cơ hoai mục, các chất khoáng, than bùn + 3kg phân supper lân/1000 kg hỗn hợp.
Hỗn hợp: 40% mùn cưa đã mục + 40% phân vi sinh, rác thải hữu cơ hoai mục + 20% phân vi sinh sông Gianh
Hỗn hợp: 1/2 đất bột + 1/2 trấu hun + 1kg phân hữu cơ vi sinh
Hỗn hợp: 1/3 đất bột + 1/3 trấu hun + 1/3 xơ dừa + 1kg phân hữu cơ vi sinh
3. Một số hình ảnh về trồng cây trên giá thể:
![]() |
| Trồng dâu tây bằng phương pháp thuỷ canh nhỏ giọt |
![]() |
| Trồng dâu tây bằng phương pháp thuỷ canh nhỏ giọt |
![]() |
| Trồng cà chua |
![]() |
| Trồng rau |
![]() |
| Trồng suplo và cà chua bằng phương pháp thuỷ canh trên giá thể mùn dừa, tro trấu... |
Giá thể là một loại vật liệu sạch (bột núi lửa, vỏ trấu hun, mùn dừa...) đã được các nước phát triển trên thế giới áp dụng nhiều năm nay, có ưu điểm thay thế đất trồng, quy trình sản xuất khép kín, kiểm soát được các yếu tố gây bệnh và lây truyền cho cây.
Nguồn: Tóm tắt chuyên đề trồng cây trên giá thể - Trường đại học nông nghiệp
Quy trình kỹ thuật trồng rau
![]() |
| Trồng rau - Ảnh minh hoạ |
1. Chuẩn bị đất
1.1. Chọn đất
Đất phải thích hợp cho yêu cầu của từng loại rau: Đất pha cát, phù sa ven sông, đất thịt hay đất sét pha. Khu trồng rau phải gần nguồn nước, nguồn phân. Khu trồng rau phải thuận tiện cho giao thông phân phối.
1.2. Cày, bừa, phơi đất
Cày sâu để tăng chiều dầy tầng canh tác, phá vỡ lớp đất đế cày.
Phơi ải thường được áp dụng trước khi sửa soạn đất để diệt cỏ dại, mầm bệnh trong đất, làm đất khô ráo, thoáng khí, dễ làm đất hơn.
1.3. Lên liếp
Sau khi cày bừa, làm cỏ, cần tiến hành lên liếp tạo điều kiện cho rễ phát triển tốt, đất được thoát nước và khâu chăm sóc được dễ dàng.
Để rau có điều kiện hứng đủ ánh sáng cần chú ý hướng liếp. Hướng Đông Tây cho cây đủ ánh sáng nhất.
1.4. Đậy liếp bằng màng phủ nông nghiệp
Màng phủ nông nghiệp còn gọi là “màng bạt” hay “thảm”, là một loại nhựa dẻo, mỏng chuyên dùng để phủ liếp trồng rau.
Mục đích: Hạn chế côn trùng gây hại, hạn chế bệnh hại, ngăn ngừa cỏ dại, điều hòa độ ẩm và giữm cấu trúc mặt đất, giữ phân bón, tăng nhiệt độ đất, hạn chế độ phèn, mặn, tăng giá trị trái.
Trồng rau sử dụng màng phủ nông nghiệp có thể khắc phục được một phần yếu tố bất lợi của môi trường, cải thiện phương pháp canh tác cổ truyền theo hướng công nghiệp hóa, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân.
Cách sử dụng màng phủ nông nghiệp trên một số loại rau có thời gian sinh trưởng dài.
Chuẩn bị trước khi trồng:
- Lên liếp: Lên liếp cao 20 – 40 cm tùy mùa vụ, mặt liếp phải bằng phẳng.
- Rải phân lót: Toàn bộ vôi, phân chuồng và 1/4 lượng phân hóa học rài, trộn đều trên mặt liếp. Trồng bằng màng phủ nên bón lượng phân lót nhiều hơn trồng phủ rơm bởi vỉ phân bón được giữ bên trong màng phủ ít bị thất thoát…
- Đậy màng phủ: Tưới ướt mặt liếp trồng khi đậy màng phủ.
- Đục lỗ màng phủ: Dùng lon sửa bò đường kính 10 cm.
- Xử lý mầm bệnh: Phun thuốc trừ nấm bệnh vào lỗ trước khi đặt cây con.
2. Xử lý hạt giống truớc khi gieo
2.1. Xử lý hạt giống
Đề nghị phòng bệnh do nấm khuấn có sẳn trong hạt hoặc tấn công cây con lúc mới gieo.
2.2. Cách gieo hạt
- Gieo hạt thẳng:
*Ưu điểm: Gieo thẳng rễ mọc sâu, cây sinh trưởng rất mạnh không bị mất sức.
* Khuyết điểm: Khó chăm sóc gặp mưa to cây hư nhiều.
- Gieo trong bầu:
* Ưu điểm: Gieo trong bầu cây sinh trưởng đều ít hao cây con.
* Khuyết điểm: Tốn công làm bầu, rễ không phát triển sâu.
3. Chăm sóc
Xới đất để diệt cỏ, cải thiện thành phần không khí trong đất và giữ ẩm độ đất.
Vun đất làm thêm phần xốp vào nơi gốc cây, giúp cây khỏi ngã khi có gió to và tăng cường khả năng tiếp xúc của bộ rễ với đất, tạo điều kiện cho rễ bất định trên gốc thân phát triển.
Tủ đất giúp giảm sự bốc thoát hơi nước từ đất.
a) Bón phân:
Có nhiều cách bón phân
- Vãi phân và cày lấp đất chôn phân trước khi gieo trồng
- Bón phân vào rãnh ở một bên hay cả 2 bên hàng cây.
- Trộn đều phân vào đất trong rãnh khi gieo, lấp đất và gieo hạt lên trên.
- Rãi trên mặt hoặc giữa hàng cây các loại phân NPK dễ tiêu, có hiệu nhanh khi cây lớn.
b) Tuới nuớc
Là một trong những biện pháp chủ yếu đảm bảo năng suất cao mà không lệ thuộc vào điều kiện thời tiết. Phương pháp tưới được sử dụng phổ biến:Tưới thùng, gàu, tưới rãnh.
4. Phòng trừ sâu hại
a) Phương pháp canh tác
- Khử giống.
- Cải thiện điều kiện môi trường.
- Điều chỉnh nước tưới và thoát nước hợp lý, tạo ẩm độ đất và không khí thích hợp cho sự phát triển của cây và không thuận hợp cho vi sinh vật.
- Bón phân thay đổi pH và nnồng độ các chất dinh dưỡng trong đất cũng cóthể ngăn ngừa một số bệnh do vi sinh vật trong đất gây ra.
- Luân canh và xen canh.
b) Phương pháp sinh học
- Sử dụng giống kháng.
- Biện pháp sử dụng thiên địch thiên nhiên.
c) Phương pháp hoá học
- Việc áp dụng biện pháp hóa học có ý nghĩa tích cực nhất trong viêc bảo vệrau phòng tri dịch hại vì thuốc tác dụng phòng trị dịch nhanh.
- Sử dụng thuốc hóa học phòng trị côn trùng thường đưa đến việc làm ô nhiểm môi trường và sản phẩm rau thu hoạch và diệt côn trùng có ích, do đó chỉ trong trường hợp rất cần thiết hãy sử dụng. Nếu có thể nên giảm đến mức tối thiểu việc sử dụng thuốc hóa học hoặc sử dụng kết hợp với các phương pháp khác.
5. Thu hoạch
- Chín kỹ thuật, chín nông học hay chín thu hoạch là thời điểm sản phẩm có thể sử dụng làm thực phẩm, dự trữ, chuyên chở hay chế biến.
Nguồn: sưu tầm
Ảnh hưởng của thuốc trừ sâu tới sức khoẻ của người phun thuốc - Phạm Bích Ngân, Đinh Xuân Thắng
Đây là một bài báo khoa học nêu ra ảnh hưởng của thuốc trừ sâu tới sức khoẻ của con người.
Như ta đã biết, thuốc trừ sâu không chỉ để lại các tác hại đối với sức khoẻ của người sử dụng sản phẩm nông sản có phun thuốc mà còn ảnh hưởng tới sức khoẻ của chính bản thân người phun thuốc (người trực tiếp đem thuốc bảo vệ thực vật tác động lên nông sản). Để có thể hiểu rõ hơn về vấn đề này để từ đó có cách phòng, chống hiệu quả, VRS xin giới thiệu tới quý bạn đọc bài báo khoa học sau:
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
![]() |
| Thuốc trừ sâu bệnh |
Giá trị dinh dưỡng của trái cây
Trái (hay quả) cây thường có phần thịt mọng nước ăn được và hạt. Ngược lại với rau được dùng như
món ăn chính, phần lớn trái cây là món ăn phụ, điểm tâm, tráng miệng hoặc ăn vặt... Trái cây là thực phẩm ưa thích của loài người vì tính chất bổ dưỡng và tiện lợi của nó.
![]() |
| Các loại trái cây trên thị trường - Ảnh: xaluan.com |
Thành phần dinh dưỡng
Nhiều chuyên gia dinh dưỡng quả quyết rằng trái cây là “bạn đường của sức khoẻ” vì nó có đầy đủ những chất dinh dưỡng cần thiết để duy trì một đời sống lành mạnh.
1. Nước
Cơ thể cần từ 2 –3 lít nước mỗi ngày để giữ nhiệt độ bình thường, để làm trơn các khớp xương, để lưu chuyển dưỡng chất nuôi tế bào, để làm huyết tương chứa hồng cầu, bạch cầu, để làm vật chống đỡ cơ thể...
Nước trong trái cây rất nhiều, tươi mát, mà lại là loại nước tinh khiết, không nhiễm trùng hay vẫn đục. Nước từ lòng đất, được cây hút lên, chế biến đưa vào trái cây để ta dùng mà không cần mất công đun nấu, gạn lọc. Dùng nước này ta không sợ các bệnh như tiêu chảy, khó chịu dạ dày, không bị sự ô nhiễm của bụi đất hay hóa chất trong không khí.
2. Chất đạm
Chất đạm cần thiết cho sự cấu tạo các loại tế bào, chế tạo hormon trong cơ thể.
Thường thường, khi nói tới chất đạm, ta nghĩ ngay tới một miếng bít-tết, một đùi gà quay... vì đây là nguồn cung cấp chính. Nhưng loại chất đạm này có nhiều chất béo mà con người lạm dụng và phụ thuộc nó nên gây ra nhiều bệnh hoạn. Ngoài ra, ăn một miếng thịt cần đến 8 giờ để tiêu hoá, trong khi đó ăn hỗn hợp trái cây, ta chỉ cần nửa giờ là đã hấp thụ được số chất đạm này.
Rau trái cũng có nguồn chất đạm đáng kể, tất nhiên là ít hơn thịt cá, nhưng dễ tiêu và không có cholesterol. Ta hãy nhìn vào các vị tu hành, không ăn thịt động vật, chỉ ăn rau trái, mà cũng đủ chất đạm cho cơ thể, sức khoẻ vẫn tốt, thần sắc hồng hào, tinh thần minh mẫn, phục vụ đạo giáo và tín đồ không mệt mỏi.
Đạm trong trái cây có đủ tám loại acid amin cần thiết mà cơ thể không tự tạo ra được và phải do thực phẩm cung cấp.
Những trái ăn hạt như đậu phộng, hạt hạnh nhân, quả óc chó (walnut), trái bơ... có rất nhiều đạm.
3. Carbohydrat
Carbohydrat cung cấp năng lượng cho chức năng của cơ thể dưới hình thức các loại đường hoặc tinh bột. Trái cây có loại đường đơn thiên nhiên fructose, sẵn sàng được hấp thụ và có khả năng cung cấp năng lượng mà cơ thể cần ngay. Đường này dễ tiêu và hấp thụ vào máu từ từ nên không gây xáo trộn cho mức độ insulin do tụy tạng tiết ra.
4. Chất béo
Khi ăn nhiều chất béo thì không tốt, nhưng cơ thể cần một lượng tối thiểu để duy trì sự tăng trưởng của tế bào, tích trữ năng lượng, cấu tạo thành phần của hệ thần kinh, sản xuất hormon. Trái cây như chuối, bơ, ôliu, điều (đào lộn hạt)... có một ít chất béo và hầu như không có cholesterol.
5. Khoáng chất và vitamin
Cơ thể cần một lượng rất nhỏ khoáng chất và vitamin để điều hòa mọi chức năng cũng như để tăng trưởng, sinh sản. Trái cây có đủ các chất này dưới dạng hoàn toàn tự nhiên, không pha hóa chất, dễ tiêu và vừa đủ cho nhu cầu hằng ngày. Tuy nhiên, trái cây thường không có hoặc có rất ít vitamin B
Bảo quản
Trái cây là sản phẩm mà thiên nhiên cung cấp, sẵn sàng để con người sử dụng mà không cần nhiều thời gian chế biến, sửa soạn.
Để trái cây thêm ngon, cần có lựa chọn kỹ càng, bảo quản đúng cách, và ăn đúng lúc.
Khi bày bán trên thị trường, người ta thường phun hóa chất lên trái cây để giữ trái lâu hư cũng như để trái cây có vẻ tươi, đẹp, hấp dẫn hơn. Vì thế, cần rửa sạch hoặc gọt vỏ trước khi ăn.
a. Trái cây tươi
Mùa nào trái đó, mua đúng mùa đúng lúc thì trái cây ngon và rẻ hơn.
Lựa trái cây không khó khăn nếu ta để ý một chút. Điều cần nhớ là không nên mua vì giá rẻ, mà mua vì dùng được hoặc để dành được. Nếu không có nhu cầu trang trí, chưng bày cho đẹp mắt thì bề ngoài của trái hơi có tì vết một chút cũng không ảnh hưởng đến phẩm chất của trái.
Cũng nên nhớ rằng, hầu hết trái cây được xịt một lớp hóa chất để tăng màu tươi, tạo vẻ ngoài đẹp hơn, nên nhiều khi “thấy vậy mà không phải vậy”.
Khi mua về, trái chín cần được giữ trong tủ lạnh để
tránh mau hư. Trước hết, lựa riêng những trái hư, trái chưa chín hẳn. Không nên làm trái mau chín bằng cách phơi nắng vì các tia tử ngoại, hồng ngoại có thể làm phân huỷ vài loại vitamin.
Rửa và lau khô những trái cây có vỏ cứng và trơn tru. Trái có vỏ mỏng như nho, anh đào, các loại trái nhỏ mọng nước như dâu, phúc bồn tử, ô rô, mâm xôi đen... thì không cần rửa khi cất giữ vì nước đọng làm trái mau hư, nhưng đừng quên rửa trước khi ăn.
Đừng vặt bỏ cuống hoặc chóp của trái, tránh làm tổn thương tới tế bào của trái.
Tủ lạnh cần giữ ở nhiệt độ từ 150C tới 210C, không ẩm. Tốt hơn hết là giữ trái trong hộp kín để không khí không làm khô trái, nhưng nếu đựng trong túi nylon thì lại nên chọc thủng lỗ nhỏ để thoát hơi và độ ẩm. Giữ kỹ như vậy, trái có thể để dành được khá lâu.
b. Trái cây đóng hộp
Với trái cây đóng hộp, khi mua cần xem kỹ hạn sử dụng có ghi trên hộp. Tuyệt đối không mua sản phẩm quá hạn dùng, cho dù giá rẻ.
Tránh những hộp bị rò rỉ, không khí vào hộp làm phồng lên; hộp móp vào không sao, trừ phi vết lõm làm rách hộp và để không khí lọt vào.
Trái cây đóng hộp thường được bảo quản bằng nước đường cho khỏi hư và đường càng ngọt thì thời hạn bảo quản càng tốt. Đôi khi hộp chỉ chứa riêng nước ép trái cây.
Trái cây đóng hộp có thể giữ trong phòng ở nhiệt độ không quá 250C, thoáng khí, không ẩm, có thể để dành cả năm mà phẩm chất vẫn tốt, miễn là hộp không bị rò rỉ và chưa quá hạn sử dụng do nhà sản xuất ghi trên hộp.
c. Trái cây đông lạnh
Trái cây này cũng rất ngon. Khi mua lựa thứ đông cứng nguyên cục, chứ nếu chảy nước hoặc hơi mềm là bắt đầu rã đá và hư. Mang về, nếu chưa ăn cần bỏ vào tủ lạnh với nhiệt độ bằng hoặc dưới độ đông lạnh. Giữ như vậy trái vẫn còn tốt tới một năm.
d. Trái cây khô
Cần được bán trong túi sạch sẽ và bọc kín. Trái phải mềm dẻo nhưng chắc, màu tươi sáng, không lốm đốm mốc meo. Trái khô có thể không cần giữ trong tủ lạnh, với điều kiện nhiệt độ trong nhà không quá 240C. Có thể giữ được trong vòng nửa năm. Nhưng nếu trời nóng quá và ẩm quá thì nên để trong tủ lạnh, nhất là sau khi đã mở ăn dở dang, để tránh nấm mốc.
đ. Nướng trái cây
Khi nướng, trái cây có thể là món ăn phụ thay thế cho thịt. Nướng không mất nhiều thì giờ, nhưng cần được ăn ngay.
Trái được gọt vỏ, cắt đôi, xếp úp lên vỉ hoặc chảo, quết bơ và nước trái chanh lên mặt, nướng độ mươi phút cho tới khi mặt trái hơi nâu. Giở sang mặt kia rồi quết bơ, nước chanh, thêm chút đường, quế bột, nướng thêm vài phút cho tới khi nâu vàng.
Mời xem thêm tại đây
Mời xem thêm tại đây
Nguồn: sưu tầm
Một số kinh nghiệm giúp nông dân phân biệt và chọn mua phân bón đúng chất lượng
Gần đây, các phương tiện thông tin đại chúng liên tục đưa tin về tình hình sản xuất và tiêu thụ phân bón giả, phân bón kém chất lượng, nhất là phân Kali và các loại phân hỗn hợp NPK. Hậu quả là người nông dân phải chịu “tiền mất- tật mang” mà chẳng biết kêu ai.
Để giúp cho nông dân tự bảo vệ mình, chúng tôi xin giới thiệu một số kinh nghiệm được tổng hợp từ các chuyên gia trong lĩnh vực phân bón.
Phân hóa học là loại phân bón chủ lực, cung cấp các chất dinh dưỡng đa lượng: Đạm (N), Lân (P2O5), Kali (K2O) cho cây trồng, là những yếu tố quyết định tới năng suất và chất lượng nông phẩm.
![]() |
| Phân bón dùng trong nông nghiệp - Ảnh: st |
Cây rau trong đời sống kinh tế xã hội
Rau là cây hoặc phần có thể ăn được và thường là mọng nước, ngon và bổ được sử dụng như là món ăn chính hoặc đồ phụ gia để nấu hoặc ăn sống.
Rau rất đa dạng và phong phú. Rau xanh là loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của mỗi người trên khắp hành tinh, đặc biệt khi lương thực và các loại thức ăn giàu đạm đã được đảm bảo thì nhu cầu về rau xanh lại càng gia tăng, như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ. Vai trò của cây rau đã được khẳng định qua câu tục ngữ “cơm không rau như đau không thuốc”. Giá trị của rau được thể hiện nhiều mặt trong cuộc sống.
| Cây rau trong đời sống - Ảnh: baodaklak.vn |
1. Về mặt dinh dưỡng
- Rau là nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể con người.
Theo tính toán của các nhà dinh dưỡng học thì nhu cầu tiêu thụ rau bình quân hàng ngày của mỗi người trên thế giới cần khoảng 250-300g/ngày/người tức 90-110kg/người/năm. Rau cung cấp cho cơ thể con người các chất dinh dưỡng quan trọng như các loại vitamin, muối khoáng, axit hữu cơ, các hợp chất thơm, cũng như protein, lipit, chất xơ, vv...Trong rau xanh hàm lượng nước chiếm 85-95%, chỉ có 5-15% là chất khô. Trong chất khô lượng cacbon rất cao (cải bắp 60%, dưa chuột 74-75%, cà chua 75-78%, dưa hấu 92%). Giá trị dinh dưỡng cao nhất ở rau là hàm lượng đường (chủ yếu đường đơn) chiếm tỷ lệ lớn trong thành phần cacbon. Nhờ khả năng hoà tan cao, chúng làm tăng sự hấp thu và lưu thông của máu, tăng tính hoạt hoá trong quá trình ôxy hoá năng lượng của các mô tế bào. Một số loại rau như khoai tây, đậu (nhất là đậu ăn hạt như đậu Hà Lan, đậu Tây), nấm, tỏi cung cấp 70 - 312 calo/100g nhờ các chất chứa năng lượng như protit, gluxit.
- Rau là nguồn cung cấp vitamin phong phú và rẻ tiền:
Rau có chứa các loại vitamin A (tiền vitamin A), B1, B2, C, E và PP vv... Trong khẩu phần ăn của nhân dân ta, rau cung cấp khoảng 95 - 99% nguồn vitamin A, 60-70% nguồn vita min B (B1, B2, B6, B12) và gần 100% nguồn vitamin C.
Vitamin có tác dụng làm cho cơ thể phát triển cân đối, điều hòa, các hoạt động sinh lý của cơ thể tiến hành bình thường. Thiếu một loại vitamin nào đó sẽ làm cho cơ thể phát triển không bình thường và phát sinh ra bệnh tật. Nếu ăn uống lâu ngày thiếu rau xanh ta thường thấy xuất hiện các triệu chứng như da khô, mắt mờ, quáng gà... do thiếu vitamin A; bệnh chảy máu chân răng, tay chân mỏi mệt, suy nhược do thiếu vita min C; miệng lưỡi lở loét, viêm ngứa chủ yếu do thiếu vitamin PP; tê phù do thiếu vitamin B (chủ yếu là B1)... Ngoài ra thiếu vitamin làm giảm sức dẻo dai, hiệu suất làm việc kém, dễ phát sinh nhiều bệnh tật, khi mắc bệnh chữa cũng lâu lành. Trong lao động, công tác, học tập sinh hoạt hàng ngày mỗi người đều cần một lượng vita min nhất định, nhu cầu vitamin hàng ngày mỗi người cần 100mg C trong đó 90% lấy từ rau quả.
- Rau là nguồn cung cấp chất khoáng cho cơ thể
Rau chứa các chất khoáng chủ yếu như Ca, P, Fe, là thành phần cấu tạo của xương và máu. Những chất khoáng có tác dụng trung hòa độ chua do dạ dày tiết ra khi tiêu hóa các loại thức ăn như thịt, các loại ngũ cốc. Hàm lượng Ca rất cao trong các loại rau cần, rau dền, rau muống, nấm hương, mộc nhĩ (100- 357 mg%).
- Rau là nguồn cung cấp các dinh dưỡng khác
Rau cung cấp cho cơ thể các axit hữu cơ, các hợp chất thơm, các vi lượng, các xellulo (chất xơ) giúp cơ thể tiêu hoá thức ăn dễ dàng, phòng ngừa các bệnh về tim mạch áp huyết cao. Ngoài ra nhiều loại rau còn chứa các kháng sinh thực vật như Linunen, Carvon, Pinen ở cần tây, allixin ở tỏi, hành có tác dụng như một dược liệu đối với cơ thể. Bởi vậy nhu cầu ăn rau ngày càng cao ở tất cả mọi người. Theo tính toán của các nhà dinh dưỡng học thì mức tiêu dùng rau tối thiểu cho mỗi người cần 90-110 kg/năm tức 250-300g/người/ngày. Liên hệ với các nước phát triển có đời sống cao đã vượt quá xa mức quy định này: Nam Triều Tiên: 141,1 kg; Newzealands: 136,7 kg. Hà Lan lên tới 202 kg/người/năm. Ở Canada mức tiêu thụ rau bình quân hiện nay là 227 kg/người/năm. Xu hướng các nước phát triển là để cải thiện đời sống nhân dân cần tăng tỷ lệ thịt, trứng, sữa, rau, quả. Ở nước ta, do đời sống chưa cao, nhu cầu về rau ngày càng tăng nhưng so với các nước thì sản lượng bình quân trên đầu người vẫn còn thấp. Tiêu thụ rau nhiều chủ yếu ở các thành phố lớn nhưng năm 2000 trở lại đây mức tiêu thụ tăng lên xấp xỉ nhu cầu bình quân của thế giới: N ăm 2005 cả nước có dân số 88 triệu người, phấn đấu bình quân nhu cầu tiêu thụ 96,3 kg/người/năm, tức khoảng 263,8 g/người/ ngày. Phấn đấu đến năm 2010 mức tiêu thụ 105,9 kg/người/năm tức 290,1 g/người/ngày với dân số chừng 95,8 triệu người.
2. Về giá trị kinh tế
- Rau là một mặt hàng xuất khẩu giá trị và có ý nghĩa chiến lược
Rau là cây trồng đem lại nhiều lợi nhuận góp phần phát triển kinh tế quốc dân đáng kể, ngoài ra rau còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao. Trong những năm gần đây thị trường xuất khẩu rau được mở rộng, năm 2001 tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam 329.972 ngàn USD.
Các loại rau chính xuất khẩu của Việt Nam hiện nay là dưa chuột, cà chua, cà rốt, hành, ngô rau, đậu rau, ớt cay, nấm... trong đó dưa chuột và cà chua có nhiều triển vọng và chúng có thị trường xuất khẩu tương đối ổn định. Thị trường xuất khẩu rau chủ yếu của Việt Nam là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Australia, Singapore, Hàn Quốc, Mỹ.. và các nước châu Âu. Hàng năm lượng rau được xuất khẩu rất nhiều cả dạng rau tươi và qua chế biến như rau đóng hộp, rau gia vị, rau muối... trong đó rau tươi là hơn trên 200.000 tấn/năm.
Bảng 1: Thị trư ờng xuất khẩu rau quả tháng 4 và 4 tháng năm 2005
Thời
gian
Thị
trư ờng
|
Thá ng
4/2005 (USD)
|
4
tháng nă m 2005 (USD)
|
Trung
Quốc
|
5.208.971
|
15.359.231
|
N hật
Bản
|
2.905.127
|
10.741.899
|
Đài
Loan
|
2.055.040
|
6.824.588
|
Nga
|
1.316.290
|
4.773.691
|
Indonesia
|
1.178.316
|
4.233.744
|
Mỹ
|
998.720
|
4.112.364
|
Hàn
Quốc
|
786.192
|
2.598.249
|
Hà
Lan
|
656.111
|
2.170.692
|
Pháp
|
500.743
|
2.048.384
|
Singapore
|
489.692
|
1.785.933
|
Malaysia
|
466.616
|
1.538.967
|
Đứ c
|
308.694
|
1.426.445
|
Brazin
|
245.157
|
1.331.510
|
Arập
Thống nhất
|
303.166
|
1.136.787
|
(N guồn: t ổng cục Hải Quan Việt N am 2006)
- Rau là nguyên liệ u của ngành công nghiệ p thự c phẩ m
Những loại rau được sử dụng trong công nghiệp chế biến xuất khẩu dưới dạng tươi, muối, làm tương, sấy khô, xay bột... công nghệ đồ hộp (dưa chuột, cà chua, ngô rau, măng tây, nấm...), công nghiệp bánh kẹo (bí xanh, cà rốt, khoai tây, cà chua...), công nghiệp sản xuất nước giải khát (cà chua, cà rốt...), công nghiệp chế biến thuốc dược liệu (tỏi, hành, rau gia vị), làm hương liệu (hạt ngò (hạt mùi), ớt, tiêu...). Đồng thời cũng là loại rau dự trữ được sử dụng trong nội địa.
- Rau là nguồ n thức ăn cho gia súc
Với chăn nuôi gia súc, gia cầm, rau giữ vai trò khá quan trọng: 1 đầu lợn tiêu thụ 1 ngày 2-3kg rau, trong đó có 50 - 60% loại rau dùng cho người: rau muống, bắp cải, su hào, dền, mồng tơi, rau ngót, rau đậu, lang. Trung bình 9kg rau xanh thì cho 1đơn vị thức ăn và 100g đạm tiêu hóa được. Rau thường chiếm 1/3 - 1/2 trong tổng số đơn vị thức ăn giành cho chăn nuôi, vậy muốn đưa chăn nuôi lên ngành sản xuất chính phải tính toán vấn đề sản xuất rau và các loại rau có giá trị dinh dưỡng cao.
- Trồng rau sẽ phát huy thế mạnh của vùng, tăng thu nhập hơn so với một số loại cây trồng khác
Cây rau dễ trồng, lại có thời gian sinh trưởng ngắn nhưng cho năng suất cao, có thể gieo trồng nhiều vụ trong năm, tận dụng được đất đai, thời tiết khí hậu, công lao động nông nhàn, quay vòng đồng vốn nhanh, có thể chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mang lại lợi nhuận cao so với một số cây trồng khác cũng trồng trên chân đất ấy.
Sản xuất rau là ngành mang lại hiệu quả kinh tế cao. Giá trị sản xuất 1 ha rau gấp 2 - 3 lần một ha lúa. Từ 2003 đến nay, ngành nông nghiệp phấn đấu thu nhập 50 triệu/ha/năm, thì cây rau có thể thu được giá trị sản xuất 70-100 triêụ đồng/ha/năm. Tại vùng chuyên canh rau Hà Nội (2002-2004) theo mô hình trồng rau ngoài đồng 4 vụ thu nhập bình quân 76-83 triệu đồng/ha/năm, trong nhà lưới 124 - 153 triệu là mức có thu nhập cao so với 26,8 triêụ/ha bình quân của ngành trồng trọt. Nông dân trồng rau có xu hướng tạo thu nhập cao hơn nông dân trồng cây khác vì năng suất và giá trị của cây rau cao hơn một cách đáng kể. Vì vậy đây là điều kiện thuận lợi để người nông dân đầu tư mở rộng diện tích trồng rau.
Bảng 2: So sánh chi phí s ản xuất và tổng thu nhập từ rau và lúa ở Đài Loan
Stt
|
Cây trồng
|
C hi phí sản xuất
(USD/ha)
|
Năng suất
(tạ/ha)
|
Tổng thu nhập
(USD/ha)
|
1
|
Lúa
|
7.663
|
5,6
|
399
|
2
|
Cà chua
|
16.199
|
60,1
|
4.860
|
3
|
K hoai
tây
|
3.876
|
23,9
|
1.104
|
4
|
Cải canh
|
2.426
|
39,7
|
1.016
|
5
|
Súp
lơ
|
4.411
|
23,9
|
1.836
|
6
|
Hành
|
6.421
|
59,5
|
4.196
|
7
|
Tỏi
|
6.834
|
9,5
|
5.677
|
(N guồn: Cẩm nang t rồng rau, Nx b Cà Mau, 2002)
3. Về giá trị làm thuốc
Một số loại rau còn được sử dụng để làm thuốc, được truyền miệng từ đời này qua đời khác, đặc biệt cây tỏi được xem là dược liệu quý trong nền y học cổ truyền của nhiều nước như Ai Cập, Trung Quốc, Việt Nam... Dùng nhánh tỏi để chữa bệnh huyết áp cao và bệnh thấp khớp. Một số loại rau có tính trừ sâu như xà lách, một số loại rau lại có giá trị cho giá trị thẩm mỹ như ớt đỏ, dưa leo, cà chua, mướp đắng...
4. Về ý nghĩa về mặt xã hội
Vị trí cây rau trong đời sống - xã hội ngày càng được coi trọng nên diện tích gieo trồng và sản lượng rau ngày càng tăng. Ngành sản xuất rau phát triển sẽ góp phần tăng thu nhập, sử dụng lao động hợp lý, mở rộng ngành nghề, giải quyết công ăn việc làm cho hàng ngàn người lao động ở các vùng nông thôn, ngoại thành và các lĩnh vực kinh doanh khác như marketting, chế biến và vận chuyển. Ngoài ra ngành sản xuất rau còn thúc đẩy các ngành khác trong nông nghiệp phát triển như cung cấp thức ăn cho chăn nuôi, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến...
Theo TS. Lê Thị Khánh


































Thống Kê :