Những hiểu biết cơ bản về phân bón - KS. Vũ Đình Cường

  Ở bài này KS. Vũ Đình Cường (ksvdc) chia sẻ một số nhận biết cơ bản về phân bón các loại, cũng như cách sử dụng. Mong góp một chút ánh sáng về hiểu biết các loại phân bón giúp mọi người sử dụng hiểu quả và đạt kết quả tốt nhất.

Read more…

Vài nét về vấn đề bón phân cho cây trồng

   Bón phân là một trong những biện pháp kỹ thuật được áp dụng thường xuyên, liên tục để nhằm nâng cao năng suất cây trồng, tăng hiệu quả kinh tế khi trồng cây. Hiểu biết về các loại phân bón, những nhu cầu thiết yếu về dinh dưỡng của cây trồng, các triệu chứng khi thiếu chất của cây trồng... là những vấn đề quan trọng để giúp người nông dân canh tác hiệu quả.
Read more…

Kinh nghiệm bón phân cho rau, củ, quả

   Rau là một loại thực phẩm cung cấp chất dinh dưỡng hàng ngày cho con người. Cho nên rau rất quan trọng trong đời sống con người. Bởi vậy, việc trồng rau đảm bảo cuộc sống của con người luôn là cần thiết. 
   Trước thực trạng, rau "bẩn" đang tràn lan trên thị trường như hiện nay thì việc ăn phải rau không sạch, không an toàn là không phải không có. Việc này đang lên mức độ báo động và cần được ngăn chặn kịp thời.
Read more…

Một số lưu ý khi bón phân cho cây trồng

   Muốn có năng suất cao, người trồng rau phải thâm canh, tức phải áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Một trong nhiều biện pháp đó là bón phân cho cây trồng.
   Vậy bón phân cho cây trồng là gì và được hiểu như thế nào là đúng, là hợp lý?
- Bón phân là biện pháp bổ sung dinh dưỡng vào đất, môi trường trồng cây để bổ sung theo nhu cầu của cây.
- Bón phân hợp lý là việc sử dụng lượng phân bón cân đối, không thừa, không thiếu nhằm đảm bảo năng suất thu hoạch nhưng phải đảm bảo an toàn chất lượng sản phẩm nông sản. Không để tồn dư hàm lượng nitrat, không nhiễm kim loại nặng,… trong sản phẩm thu hoạch cũng như trong môi trường.
Read more…

Cách ủ phân hữu cơ vi sinh từ bánh dầu

   Dù canh tác theo phương pháp hữu cơ hay hóa học thì bón phân cân đối, đầy đủ, kịp thời đều có ý nghĩa quyết định đối với năng suất, chất lượng nông sản. Trong phương pháp canh tác hữu cơ, các loại phân ủ thông thường (phân chuồng, phân xanh,…) có tỷ lệ chất độn cao, hàm lượng dinh dưỡng thấp, hiệu quả tác động chậm. Nên chỉ phù hợp cho việc bón lót, khó đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng vào những thời kỳ quan trọng. Do vậy, để đạt được hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ, chúng ta cần phải có được những loại phân bón hữu cơ đậm đặc, có hàm lượng dinh dưỡng cao, tốt độ đáp ứng nhanh để bón thúc cho cây trồng vào những thời kỳ quan trọng. Trong đó nổi trội nhất là phân bánh dầu và phân cá.
Read more…

Phân xanh và kỹ thuật sử dụng

Bể ủ phân xanh - Ảnh: tuysonvien

Read more…

Phân chuồng và kỹ thuật sử dụng

Ủ Phân chuồng thành phân hữu cơ - Ảnh: baovecaytrong
Read more…

Phân hữu cơ và kỹ thuật sử dụng

Một loại phân hữu cơ - Ảnh: lucdien.com

Read more…

Phân vô cơ và kỹ thuật sử dụng


Một loại phân vô cơ sử dụng trong nông nghiệp - Ảnh: chonongnghiep
Read more…

Nhu cầu sử dụng phân bón trong sản xuất nông nghiệp

1. Nhu cầu sử dụng phân bón trong sản xuất nông nghiệp
1.1. Quá trình phát triển các kiến thức về dinh dưỡng cây trồng và sử dụng phân bón
   Phân bón đã được loài người sử dụng từ rất lâu đời (khoảng 3000 năm trước). Loại phân mà loài người sử dụng khi đó là các phân hữu cơ động vật (phân chuồng) rồi sau mở rộng các loại phân hữu cơ khác (phân xanh và tàn tích hữu cơ) vd: Trong sử thi của Odixe của Homes (900 – 7000 TCN) đã nêu việc bón phân cho ruộng nho.

Read more…

Vai trò của phân bón trong sản xuất nông nghiệp

    Việc bón phân hợp lý cho cây trồng mang lại nhiều lợi ích như: tăng năng suất, phẩm chất nông sản; ổn định và tăng độ phì của đất; tăng thu nhập cho người sản xuất bảo vệ môi trường...

Read more…

Nhu cầu cải tạo và những lưu ý khi cải tạo vườn trồng rau

1. Nhu cầu cải tạo vườn
   Mỗi gia đình, để có được một mảnh vườn với đầy đủ các loại rau, quả cho năng suất cao, phẩm chất tốt, đáp ứng cho nhu cầu hàng ngày của gia đình và có dư thừa để bán tăng thu nhập. Người làm vườn cần phải biết cách lập và cải tạo vườn.

Mô hình vườn rau gia đình - Ảnh: minh hoạ
   Bài viết dưới đây trình bày một số vấn đề cần lưu ý:
- Cần xác định được những loại cây trồng chính trong vùng. Dựa trên điều kiện tự nhiên như đất đai, địa hình, khí hậu... để bố trí cây trồng trong vườn sao cho thích hợp.
- Chọn giống thích hợp, giống tốt, sạch bệnh để trồng.
- Kiểm tra độ màu mỡ, phì nhiêu của đất vườn.
- Tiến hành tỉa bỏ những cây có tán lớn, ra quả ít, giá trị kinh tế thấp.
- Thực hiện biện pháp luân canh, xen canh đa dạng cây trồng để tiết kiệm diện tích và tận dung tối đa đất trồng.
- Mục đích sử dụng sản phẩm từ cây trồng khi thu hoạch...

2. Cách cải tạo vườn.
   Khi tiến hành cải tạo vườn, cần xem xét các yếu tố như: đất, nước, phân bón, giống cây trồng và các biện pháp canh tác, bảo vệ thực vật, để từ đó đưa ra các phương pháp, cách thức cải tạo sao cho phù hợp và đạt hiệu quả cao nhất.

2.1. Đất
   Trong trồng trọt, đất được coi là nền tảng của cây trồng, đất nào cây ấy. Vì vậy, phải biết cải tạo và sử dụng đất, chọn cây trồng thích hợp với đất, biết thâm canh để cải tạo vườn rau.
   Việt Nam là một nước nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, thuận lợi cho trồng rau với nhiều chủng loại rất đa dạng, phong phú như: rau ăn củ, ăn quả, rau ăn lá, ăn hoa, rau gia vị, rau làm thuốc... Mỗi một loại rau có thời gian sinh trưởng và phát triển khác nhau, có loại ngắn ngày, có loại dài ngày, có loại trồng một lần cho thu hoạch nhiều năm.
   Môi trường sinh sống của mỗi loại rau cũng khác nhau, có loại rau sống ở những nơi có nước liền chân, có loại rau sống ở trên đất cao ráo, có loại thân bò trên mặt đất và có loại thì thân leo... Nhưng với bất kỳ một loại rau nào, người trồng rau phải biết được đặc tính sinh học và yêu cầu ngoại cảnh của nó để có cách thức trồng và canh tác sao cho hợp lý.
   Yêu cầu đối với đất trồng rau phải là đất tốt, nhiều màu, tầng đất canh tác dày, thoát nước nhanh và có khả năng thấm nước cao (đối với rau trồng cạn), giữ được nước liền chân (đối với rau trồng ở nước).
   Đất trồng vụ này sang vụ khác, cùng với sự tác động của tự nhiên, đất đai bị bạc màu, rửa trôi... vì thế phải tiến hành cải tạo dất, để có đất tốt thích hợp trồng rau.
 Cải tạo đất - Ảnh minh hoạ
* Cải tạo đất
  Với đất cát khó giữ ẩm, mùa khô hạn cây dễ bị chết, cần bố trí cây trồng thích hợp và tăng lượng phân hữu cơ (đặc biệt là phân chuồng hoai mục).
  Với đất nặng, nhiều sét, cần thêm đất cát pha, đất phù sa và bón nhiều phân hữu cơ.
  Với đất nhẹ, bón phân hữu cơ, bùn ao phơi khô và đập vụn.
  Với đất chua mặn, bón nhiều phân hữu cơ, vôi bột và phân N, P, K hợp lý.
  Với đất gò, đồi dốc, tiến hành san đất, tạo thành ruộng bậc thang.
  Trong đất có nhiều sỏi, đá,... cần phải được nhặt bỏ, diệt trừ cỏ dại tận gốc, tạo mặt bằng trong vườn để dễ trồng và tiện chăm sóc. Cần phải được lên luống đều và thẳng.

2.2. Nước
   Cẩn phải đảm bảo nguồn nước để tưới cho cây. Đối với những gia đình có vườn ở gần sông, suối, kênh, mương thì vấn đề nước không đáng lo ngại. Nhưng đối gia đình ở xa nguồn nước, cần phải tạo lập nguồn nước bằng cách đào ao để dự trữ nước tưới cây và còn giữ ẩm cho đất.
Chăm sóc cây - tưới nước bằng vòi phun mưa - Ảnh minh hoạ
   Cây rau trong suốt thời gian sinh trưởng và phát triển luôn cần một lượng nước nhất định để giúp cho việc hút chất dinh dưỡng nuôi cây và quang hợp tốt. Tuy nhiên trong quá trình tưới nước cần nắm bắt được từng giai đoạn phát triển của cây, để có chế độ tưới nước thích hợp. Thừa nước hay thiếu nước, cây sẽ phát triển không bình thường, thậm chí có thể bị chết.
   Yêu cầu nước tưới phải sạch, không chua mặn. Đối với cây rau ăn lá, nên tưới theo kiểu phun mưa bằng bình tưới có gương sen, còn đối với rau ăn quả thì tưới vào gốc.
   Thông thường, sau khi gieo hạt và lấp lên trên hạt giống rau một lớp đất bột mỏng hay là sau khi trồng cây giống, cần phải tưới nước để đảm bảo cho hạt nảy mầm, cây bén rễ được tốt.
   Những đêm có sương muối, sáng ra phải tưới nước lên lá để rửa sương muối, đảm bảo cho cây phát triển tốt.
   Tưới cây nên tưới vào buổi sáng sớm hoặc xế chiều. Chú ý với từng loại đất, mức độ thấm hút nước và giữ nước là khác nhau.
   Tưới nước cho cây cũng đòi hỏi những cách thức cụ thể hợp lý. Tưới nước nhiều cây bị ngập úng, tưới ít nước thì không đảm bảo cho cây sinh trưởng và phát triển. Công cụ để tưới cũng cần phải lựa chọn, tránh làm rửa trôi lớp đất màu mỡ, phì nhiêu khi tưới nước.

2.3. Phân bón
  Trong quá trình cải tạo vườn, luôn luôn phải chú ý tới phân bón. Bón phân cho cây trồng nhằm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm của cây tồng. Nhưng phải bón sao cho hợp lý, không ảnh hưởng đến đất đai và những vụ canh tác về rau.
Tự sản xuất phân bón hữu cơ - Ảnh: Baodaclac
* Bón phân hợp lý.
   Là việc sử dụng năng lượng phân bón thích hợp bón cho cây đảm bảo tăng năng suất cây trồng với hiệu quả kinh tế cao nhất, không để lại hậu quả xấu lên nông sản và môi trường sinh thái. Để bón phân hợp lý, người làm vườn cần nắm bắt được những vấn đề cơ bản sau:
- Bón phân đúng lúc, đúng loại:
  Cây trồng trong thời gian sinh trưởng và phát triển có những thời điểm cần lượng phân và loại phân khác nhau. Vì vậy, cần phải bón đúng lúc, đúng loại mới đem lại hiệu quả cao. Bón phân không nên bón tập trung trong một thời điểm, mà cần phải chia ra làm nhiều giai đoạn. Đối với giai đoạn cây sinh trưởng và phát triển mạnh, cần bón với lượng phân nhiều hơn. Bón phân với nồng độ và liều lượng quá cao, cây không thể sử dụng hết, lượng phân sẽ bị hao hụt nhiều và có thể gây ra nhiều tác hại xấu đối với đất đai, cây trồng.
  Hiện nay, có rất nhiều loại phân bón. Nhưng không phải cây nào, giai đoạn nào cũng có thể bón được. Cho nên trước khi bón cần căn cứ vào đặc tính, giống cây, đất đai... có như vậy mới phát huy được hiệu quả của việc bón phân.
  Thời tiết, mùa vụ có ảnh hưởng đến hiệu quả của phân bón. Vì vậy, khi tiến hành bón phân cần phải căn cứ vào thời tiết, mùa vụ.
  Nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa và có sự phân hoá: Bắc - Nam, theo mùa, theo độ cao. Đối với những loại cây trồng ngắn ngày, một năm có thể sản xuất được nhiều vụ. Tuy vậy, mỗi vụ cây trồng lại có đặc điểm sinh trưởng và phát triển khác nhau, nhu cầu đối với tác động của từng yếu tố dinh dưỡng cũng khác nhau. Chính vì thế cần phải lựa chọn phân bón và bón đúng thời tiết, mùa vụ mới đạt hiệu quả.
  Ví dụ: Bón phân vào thời điểm có lượng mưa lớn, mưa nhiều, rất dễ bị rửa trôi, gây lãng phí. Bón phân vào thời điểm nắng gắt cùng với sự tác động của các hạt phân bón có thể gây cháy lá, hỏng hoa, quả...

- Bón phân đúng cách:
  Có nhiều cách thức bón phân: bón vào hố, vào rãnh, rải trên mặt đất, bón lót, bón thúc (thúc đẻ nhánh, thúc ra hoa, thúc kết trái, thúc mẩy hạt...). Trước khi bón cần căn cứ vào diện tích, kích thước luống, giống cây trồng, đất trồng... để có cách thức bón phân hợp lý.
  Bón phân là khâu quan trọng không thể thiếu được đối với người làm vườn. Nên phải có cách thức bón phân hợp lý, cây trồng mới cho năng suất cao.

- Bón phân cân đối:
  Cây trồng trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển có những nhu cầu dinh dưỡng khác nhau, sống trên các loại đất khác nhau cũng có nhu cầu về chất dinh dưỡng khác nhau. Các nguyên tố dinh dưỡng cho cây trồng cần phải được cân đối hợp lý, các loại nguyên tố ảnh hưởng dư thừa cũng không thể thay thế nguyên tố thiếu hụt khác.
  Trong việc cải tạo vườn gia đình, bón phân cân đối giúp cho việc ổn định và cải thiện độ phì nhiêu của đất, bảo vệ đất, chống rửa tổi, xói mòn. Bên cạnh đó còn tăng năng suất, chất lượng của sản phẩm cây trồng, nâng cao hiệu quả của phân bón và các biện pháp kỹ thuật canh tác khác. Bảo vệ tốt nguồn nước, khí thải độc hại gây ô nhiễm môi trường.

- Xử lý trước khi đem bón:
  Trong việc cải tạo đất trồng và chăm sóc cây trồng không thể thiếu phân chuồng. Nó làm tăng độ màu mỡ, phì nhiêu cho đất và nâng độ dày tầng đất canh tác, giữ và bảo đảm chất dinh dưỡng lâu bền nuôi cây. Bởi vậy, khi cải tạo vườn và trồng trọt phải sử dụng phân chuồng. Nhưng phân chuồng trước khi đem sử dụng cần phải được xử lý bằng cách phương pháp thông thường như sau:
+ Ủ phân: Là biện pháp cần thiết trước khi đem phân ra bón vườn. Vì trong phân chuồng tươi có lẫn hạt cỏ dại, nhiều kén nhộng, côn trùng, nhiều bào tử ngủ nghỉ của nấm, xạ khuẩn và tuyến trùng gây bệnh.
   Ủ phân có tác dụng sử dụng nhiệt độ cao trong quá trình phân huỷ chất hữu cơ để tiêu diệt cỏ dại và mầm mống bệnh sâu bệnh, côn trùng vừa thúc đẩy quá trình phân huỷ chất hữu cơ. Ủ phân làm cho trọng lượng phân chuồng giảm xuống, nhưng chất lượng lại tăng lên. Sau quá trình ủ phân, người làm vườn thu được phân ủ (phân hữu cơ). Trong phân ủ có mùn, một phần chất hữu cơ chưa được phân huỷ, muối khoảng, các sản phẩm trung gian của quá trình phân huỷ, có một lượng Enzym, chất kích thích và các loài vi sinh vật hoại sinh.
Tự ủ phân hữu cơ, phân chuồng - Ảnh: hoinongdan
- Phương pháp ủ phân
+ Phương pháp ủ nóng: 
  Bước 1: Phân gia súc mới thải ra, đem bỏ vào bể, hố chứa đã xây dựng sẵn, có nền không thấm nước (không được nén). Sau đó tưới nước phân lên và giữ độ ẩm trong đống phân 60 - 70%. 
   Bước 2: Trộn từ 1 - 2% supe lân để giữ đạm. 
   Bước 3: Lấy bùn ao phủ bên ngoài đống phân. 
   Bước 4: Hàng ngày tưới nước phân lên đống phân.
   Ưu điểm: Ủ nóng có tác dụng tiêu diệt hạt cỏ dại, loại trừ các mầm mống gây bệnh. Ủ phân sau 30 - 40 ngày có thể sử dụng được.

+ Phương pháp ủ nguội.
   Bước 1: Phân gia súc thải ra, đem xếp thành lớp và nén chặt. 
   Bước 2: Trên mỗi lớp phân chuồng, rắc khoảng 2 % phân lân. 
   Bước 3: Lấy đất bùn phơi khô đập nhỏ hoặc đất bột phủ lên và nén chặt.
   Lưu ý: 
   Chiều cao, chiều dài và chiều rộng của đống phân phụ thuộc vào lượng phân chuồng có sẵn nên khi xếp phân xong, lấy bùn ao phủ bên ngoài đống phân.
   Sau khoảng thời gian 5 - 6 tháng, phân có thể sử dụng được. Phân ủ bằng phương pháp ủ nguội cho chất lượng tốt hơn khi phân ủ nóng.
   Ngoài 2 phương pháp ủ phân trên đây, còn có phương pháp ủ nóng trước, ủ nguội sau, những phương pháp này tốn nhiều công đoạn. Hơn nữa với vườn gia đình, sử dụng phương pháp ủ nóng hay ủ nguội là được.

Nguồn: 
Theo Hà Thị Hiến
Read more…

Các loại phân bón trong nông nghiệp

   Phân bón rất cần thiết cho nông nghiệp vì cây được ví như thức ăn của cây. Nếu không có phân bón thì cây không thể phát triển được. Do đó phân bón có một tầm quan trọng rất lớn trong nền nông nghiệp thế giới nói chung và nông nghiệp Việt Nam nói riêng.
Phân loại phân bón cơ bản - Ảnh: VRS
   Có rất nhiều loại phân bón dùng cho nông nghiệp nhưng tựu trung lại chia thành 2 nhóm chính là phân hữu cơ và phân vô cơ.
  Tài liệu sau đây sẽ trình bày chi tiết các loại phân bón này.
  Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Read more…

Vai trò của vi lượng đối với cây trồng

   Để cây trồng phát triển tốt thì cây trồng cần cung cấp đủ các chất từ đa, trung lượng và vi lượng. Mặc dù một số chất vi lượng cần rất ít nhưng đôi khi lại rất quan trọng đối với cây trồng. Thiếu hoặc thừa chất vi lượng cũng ảnh hưởng rất lớn tới cây trồng. Khi thừa vi lượng có thể làm cho cây còi cọc, chậm phát triển hoặc nhiễm kim loại nặng, ảnh hưởng tới chất lượng nông sản, ảnh hưởng tới sức khoẻ con người. Một số nguyên tố vi lượng còn tạo ra các mùi vị đặc trưng của cây trồng đó. Ví dụ: độ cay của ớt, độ ngọt của rau quả,… Sau đây, tôi xin điểm qua một số vai trò cơ bản của các chất vi lượng này.
 
Vi lượng sắt - dưới dạng Fe-EDTA - Ảnh: st

Vi lượng kẽm - dạng bột - Ảnh: st

1. Sắt (Fe):
    Thường được bổ sung dưới dạng phức chất (chelat), thí dụ như Fe - EDTA (9% Fe) hoặc Fe - EDDHA (6% Fe) với hình thức phun lên lá. Sắt không được tái sử dụng nên rất dễ xảy ra thiếu sắt khi bón phân không cân đối.
(+) Vai trò:
- Sắt có vai trò quan trọng việc hình thành diệp lục, qua đó có vai trò trong việc cung câp oxi cho cây trồng.
- Khi cây thiếu sắt sẽ biểu hiện qua lá: lá cây có màu xanh nhợt nhạt (bạc lá), đặc biệt giữa gân lá mầu xanh và khoảng giữa mầu vàng. Dễ quan sát nhất là các lá non, vào thời kỳ đỉnh sinh trưởng của cây trồng.
- Khi bệnh nặng, toàn bộ cây biến thành màu vàng cho tới trắng lợt. Lá cây thiếu sắt sẽ chuyển từ màu xanh sang vàng hay trắng ở phần thịt lá, trong khi gân lá vẫn còn xanh. Triệu chứng thiếu sắt xuất hiện trước hếtở các lá non, sau đến lá già.
(+) Nguyên nhân:
   Mất cân bằng với các chất khác như Molipden (Mo), Đồng(Cu) hay Mangan(Mn) trong quá trình bón phân (ví dụ khi bón Lân).
   Do pH trong đất (giá thể), hàm lượng carbonat cao
   Do di truyền của cây
   Do hàm lượng chất hữu cơ trong đất thấp.
2. Mangan (Mn):
    Hiện tượng thiếu Mn, chủ yếu xẩy ra đối với đất có độ pH từ axit nhẹ đến trung tính. Mangan sulfat (24 - 32% Mn) và Mn - EDTA (13 % Mn) đều dễ tan trong nước và có tác dụng nhanh. Mangan oxyt có thể được sử dụng để làm tăng độ phì nhiêu cho đất.
(+) Vai trò:
- Mangan là thành phần của các enzyme. Nó có vai trò hoạt hóa một số phản ứng trao đổi chất quan trọng trong cây và tham gia trực tiếp vào quá trìnhquang hợp, bằng cách hỗ trợ sự tổng hợp Diệp lục.
- Mangan tăng cường sự chín và sự nẩy mầm của hạt khi nó làm tăng sự hữu dụng của Lân và Canxi. Cũng như sắt,
- Mangan cũng không được tái sử dụng trong cây nên hiện tượng thiếu sẽ bắt đầu từ những lá non, với mầu vàng giữa những gân lá, và đôi khi xuất hiện nhiều đốm nâu đen.
- Biểu hiện rõ nhất khi cây thiếu Mn là phần gân lá và mạch dẫn biến vàng. Nhìn toàn bộ lá có màu xanh sáng, về sau xuất hiện các đốm vàng ở phần thịt lá và phát triển thành các vết hoại tử trên lá.
(+) Nguyên nhân:
    Hiện tượng thiếu Mangan thường xảy ra ở những chân đất giầu hữu cơ, hay trên những đất trung tính hoặc hơi kiềm và có hàm lượng Mangan thấp. Mặc dù hiện tượng thiếu Mangan thường đi với đất có pH cao, nhưng nó cũng có thể gây ra bởi sự mất cân bằng với các dinh dưỡng khác như Canxi, Magie và Sắt.
   Hiện tượng thiếu thường xảy ra rõ nét khi điều kiện thời tiết lạnh, trên chân đất giầu hữu cơ, úng nước. Triệu chứng sẽ mất đi khi thời tiết ấm trở lại và đất khô ráo.
 3. Kẽm (Zn):
    Kẽm được coi như là một trong các nguyên tố vi lượng đầu tiên cần thiết cho cây trồng. Kẽm thường được bón cho cây thiếu dinh dưỡng, có thể phun kẽm sunfat (23 % Zn) hoặc kẽm chelat (Zn - EDTA) lên lá ở giai đoạn hình thành hạt, lượng Zn trong lòng đất có vai trò quan trọng hơn so với Zn trên bề mặt.
(+) Vai trò:
   Zn tham gia hoạt hóa khoảng 70 enzym của nhiều hoạt động sinh lý, sinh hóa của cây. Nó là một nguyên tố có ảnh hưởng to lớn đối với năng suất cây trồng.
    Kẽm hỗ trợ cho sự tổng hợp các chất sinh trưởng và các hệ thống men và cần thiết cho sự tăng cường một số phản ứng trao đổi chất trong cây. Nó cần thiết cho việc sản xuất ra chất Diệp lục và các Hydratcarbon.
    Kẽm cũng không được vận chuyển sử dụng lại trong cây nên biểu hiện thiếu thường xảy ra ở những lá non và bộ phân khác của cây.
   Thiếu Zn sẽ gây rối loạn trao đổi auxin nên ức chế sinh trưởng, lá cây bị biến dạng, ngắn, nhỏ và xoăn, đốt ngắn và biến dạng. Biểu hiện thiếu kẽm có thể là: lá non chuyển sang trắng hoặc vàng sáng…
(+) Nguyên nhân:
   Bón phân không cân đối.
4. Đồng (Cu):
    Là một kim loại nặng nên cần được chú ý khi bón cho cây trồng. Nếu đất thiếu đồng có thể điều chỉnh bằng cách bón đồng sulfat hoặc oxyt. Thích hợp nhất là phun chelat hoặc đồng sulfat trung tính lên lá cây đang thiếu dinh dưỡng.
(+) Vai trò:
   Đồng cần thiết cho sự hình thành Diệp lục và làm xúc tác cho một số phản ứng khác trong cây, nhưng thường không tham gia vào thành phần của chúng.
   Nhiều loại cây rau biểu hiện thiếu Đồng với lá rủ xuống và có mầu xanh, chuyển sang quầng mầu da trời tối trước khi trở nên bạc lá, biến cong và cây không ra hoa được.
(+) Nguyên nhân:
   Hiện tượng thiếu đồng thường xảy ra trên những vùng đất đầm lầy, ruộng lầy thụt. Cây trồng thiếu đồng thường hay có hiện tượng chảy gôm (rất hay xảy ra ở cây ăn quả), kèm theo các vết hoại tử trên lá hay quả.
5. Bo (B):
    Nhu cầu B cho từng loại đất là rất khác nhau. Nên bón borac (ll - 22% B) cho cây có nhu cầu B cao. B cũng có thể được bón phối hợp với phân lân hoặc phân đa dinh dưỡng khác. Polyborat thường được coi là loại cao cấp hơn so với borac khi dùng để bón lá.
(+) Vai trò:
   Bo cần thiết cho sự nẩy mầm của hạt phấn, sự tăng trưởng của ống phấn, cần thiết cho sự hình thành của thành tế bào và hạt giống.
   Bo cũng hình thành nên các phức chất đường/borat có liên quan tới sự vận chuyển đường và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành protein.
   Bo tác động trực tiếp đến quá trình phân hóa tế bào, trao đổi hocmon, trao đổi N, nước và chất khoáng khác, ảnh hưởng rõ rệt nhất của B là tới mô phân sinh ở đỉnh sinh trưởng và quá trình phân hóa hoa, thụ phấn, thụ tinh, hình thành quả.
   Khi thiếu B thì chồi ngọn bị chết, các chồi bên cũng thui dần, hoa không hình thành, tỷ lệ đậu quả kém, quả dễ rụng, rễ sinh trưởng kém, lá bị dày lên.
(*) Nguyên nhân:
   Bón phân không cân đối, phân bón không có đủ vi lượng cần thiết.
6. Molypđen (Mo):
    Chất này chỉ cần bón với lượng nhỏ, sử dụng muối Natri Molypđat tan trong nước, còn Amoni Molypđat lại thích hợp để bón lá.
(+) Vai trò:
  Molipden cần cho sự tổng hợp và hoạt động của men khử Nitrat. Loại men này khử Nitrat thành Ammonium trong cây.
   Molipden có vai trò sống còn trong việc tổng hợp đạm cộng sinh bởi vi khuẩn Rhizobia trong nốt sần cây họ đậu.
   Molipden cũng cần thiết cho việc chuyển hóa Lân từ dạng vô cơ sang hữu cơ trong cây.
   Thiếu Mo sẽ ức chế dinh dưỡng đạm của cây trồng nói chung, đặc biệt của các cây họ đậu . Hiện tượng thiếu Molipden có biểu hiện chung như vàng lá và đình trệ sinh tưởng. Sự thiếu hụt Molipden có thể gây ra triệu chứng thiếu Đạm trong các cây họ đậu như đậu tương, cỏ alfalfa, vì vi sinh vật đất phải có Molipden để cố định Nitơ từ không khí. Molipden trở nên hữu dụng nhiều khi pH tăng, điều đó ngược lại với đa số vi lượng khác.
(+) Nguyên nhân:
   Thiếu Mo thường xảy ra ở nơi đất trồng chua. Đất nhẹ thường dễ bị thiếu Mo hơn so với đất nặng.
7. Vai trò của Clo (Cl):
   Clo là nguyên tố vi lượng sống còn cho cây trồng.
(+) Vai trò:
   Clo tham gia vào các phản ứng năng lượng trong cây. Cụ thể là nó tham gia vào sự bẻ gẫy phân tử nước với sự hiện hữu của ánh sáng mặt trời và hoạt hóa một số hệ thống men.
   Nó cũng tham gia vào quá trình vận chuyển một số chất như Canxi, Magie, Kali ở trong cây, điều hòa hoạt động của những tế bào bảo vệ khí khổng, do đó kiểm soát được sự bốc thoát hơi nước…

(*) Tài liệu tham khảo:
wikipedia.org
google.com.vn
Phân bón và cách sử dụng - Nguyễn Mạnh Chinh
Read more…

Tìm hiểu về phân vô cơ và ảnh hưởng của nó

    Trong các bài viết trước, tôi đã trình bày tác dụng của phân hữu cơ cũng như các vấn đề liên quan như: cách ủ phân hữu cơ, yếu tố hình thành phân hữu cơ cũng như các ảnh hưởng của vi sinh vật đến quá trình hình thành phân hữu cơ. Trong bài viết tiếp theo này, tôi sẽ tóm tắt một số vấn đề liên quan đến phân vô cơ nói chung.

Ảnh minh hoạ: Phân vô cơ - nguồn http://www.vaas.org.vn
Bài viết trình bày gồm 02 phần. 
- Phần I sẽ trình bày các khái niệm, vai trò chức năng của từng loại phân vô cơ, cách sử dụng cũng như những lưu ý quan trọng khi dùng phân vô cơ để bón cho cây trồng. 
- Phần II sẽ trình bày một số ảnh hưởng của phân vô cơ đối với đất, cây trồng, môi trường và con người.

Nội dung trình bày:

Phần I. Phân vô cơ
1. Khái niệm
2. Phân đạm
2.1. Khái niệm
2.2. Chức năng
2.3. Phân loại
2.3.1. Phân urê
2.3.2. Phân amôn nitrat
2.3.3. Phân sunphat đạm
2.3.4. Phân đạm clorua
2.3.5. Phân Xianamit canxi
2.3.6. Phân photphat đạm
2.3.7. Lưu ý khi sử dụng phân đạm
3. Phân lân
3.1. Vai trò, chức năng
3.2. Phân loại
3.2.1. Phôtphat nội địa
3.2.2. Phân apatit
3.2.3. Supe lân
3.2.4. Tecmô phôtphat (phân lân nung chảy, lân Văn Điển)
3.2.5. Phân lân kết tủa
4. Phân kali
4.1. Vai trò, chức năng
4.2. Những lưu ý khi sử dụng phân kali bón cho cây:
4.3. Phân loại:
4.3.1. Phân clorua kali
4.3.2. Phân sunphat kali
4.3.3. Một số loại phân kali khác

Phần II. Ảnh hưởng của phân vô cơ (phân hoá học)
1. Tổng quan:
2. Ảnh hưởng của phân vô cơ đối với tính chất lý hoá của đất.
2.1. Về mặt vật lý
2.2. Về mặt hoá học
3. Ảnh hưởng của phân bón hoá học đối với sức khoẻ con người

Phần I. Phân vô cơ

1. Khái niệm:
- Phần vô cơ là gì? Đó là những hoá chất (hoá học), chứa các chất dinh dưỡng thiết yếu cho cây. Nó được bón vào đất để bổ sung hàm lượng dinh dưỡng trong đất, giúp cây phát triển tốt, tăng năng suất cây trồng.

- Phân loại: Phân vô cơ gồm có: Phân đạm, phân lân, phân kali, phân phức hợp, phân hỗn hợp, phân vi lượng.

2. Phân đạm:
2.1. Khái niệm:
Ảnh minh hoạ: Một dạng phân đạm - nguồn: timphanbon.com
Phân đạm là tên gọi chung của các loại phân bón vô cơ cung cấp đạm cho cây.

2.2. Chức năng: 
- Đạm là chất dinh dưỡng rất cần thiết và rất quan trọng đối với cây. 
- Đạm là nguyên tố tham gia vào thành phần chính của clorophin, prôtit, các axit amin, các enzym và nhiều loại vitamin trong cây. Bón đạm thúc đẩy quá trình tăng trưởng của cây, làm cho cây ra nhiều nhánh, phân cành, ra lá nhiều; lá cây có kích thước to, màu xanh; lá quang hợp mạnh, do đó làm tăng năng suất cây.
- Phân đạm cần cho cây trong suốt quá trình sinh trưởng, đặc biệt là giai đoạn cây sinh trưởng mạnh. Trong số các nhóm cây trồng đạm rất cần cho các loại cây ăn lá như rau cải, cải bắp, v.v.

2.3. Phân loại: 
- Có các loại phân đạm thường dùng sau đây:

2.3.1. Phân Urê:
- Về mặt hoá học: 
+ Công thức: Ure có công thức hoá học là CO(NH2)2
+ Trong quá trình sản xuất, urê thường liên kết các phần tử với nhau tạo thành biuret. Đó là chất độc hại biuret đối với cây trồng. Vì vậy, trong phân urê không được có quá 1,5% biuret (theo Tiêu chuẩn Việt Nam).
+ Thành phần: có 44–48% nitơ (N) nguyên chất..
+ Loại phân này chiếm 59% tổng số các loại phân đạm được sản xuất ở các nước trên thế giới. Urê là loại phân có tỷ lệ nitơ cao nhất. 

- Phân loại và đóng gói: 
Trên thị trường có bán 2 loại phân urê, có chất lượng giống nhau:
 a. Loại tinh thể màu trắng, hạt tròn, dễ tan trong nước, có nhược điểm là hút ẩm mạnh.
 b. Loại có dạng viên, nhỏ như trứng cá. Loại này có thêm chất chống ẩm nên dễ bảo quản, dễ vận chuyển nên được dùng nhiều trong sản xuất nông nghiệp.

- Chức năng và cách dùng: 
+ Phân urê có khả năng thích nghi rộng và có khả năng phát huy tác dụng trên nhiều loại đất khác nhau và đối với các loại cây trồng khác nhau. Phân này bón thích hợp trên đất chua phèn.
+ Phân urê được dùng để bón thúc. Có thể pha loãng theo nồng độ 0.5–1.5% để phun lên lá.
+ Trong chăn nuôi, urê được dùng trực tiếp bằng cách cho thêm vào khẩu phần thức ăn cho lợn, trâu bò. Phân này cần được bảo quản kỹ trong túi pôliêtilen và không được phơi ra nắng. Bởi vì khi tiếp xúc với không khí và ánh nắng urê rất dễ bị phân huỷ và bay hơi. Các túi phân urê khi đã mở ra cần được dùng hết ngay trong thời gian ngắn.

2.3.2. Phân amôn nitrat:
- Về mặt hoá học:
+ Công thức: Phân amôn nitrat có công thức là (NH4NO3)
+ Thành phần: có chứa 33–35% nitơ nguyên chất. Ở các nước trên thế giới loại phân này chiếm 11% tổng số phân đạm được sản xuất hàng năm.

- Đóng gói:
+ Phân này ở dưới dạng tinh thể muối kết tinh có màu vàng xám. Amôn nitrat dễ chảy nước, dễ tan trong nước, dễ vón cục, khó bảo quản và khó sử dụng. 

+ Là loại phân sinh lý chua. Tuy vậy, đây là loại phân bón quý vì có chứa cả ion NH4+ và cả NO3- 
+ Phân này có thể bón cho nhiều loại cây trồng trên nhiều loại đất khác nhau. Amôn nitrat bón thích hợp cho nhiều loại cây trồng cạn như thuốc lá, bông, mía, ngô…

- Chức năng và cách dùng:
+ Phân này được dùng để pha thành dung dịch dinh dưỡng để tưới cây trong nhà kính và tưới bón thúc cho nhiều loại rau, cây ăn quả.

2.3.3. Phân sunphat đạm
- Về mặt hoá học:
+ Công thức: Phân sunphat đạm có công thức hoá học là ((NH4)2SO4
+ Thành phần: Có chứa 20–21% nitơ nguyên chất. Trong phân này còn có 24-25% lưu huỳnh (S). Trên thế giới loại phân này chiếm 8% tổng lượng phân hoá học sản xuất hàng năm. Phân này có dạng tinh thể, mịn, màu trắng ngà hoặc xám xanh. Phân này có mùi nước tiểu (mùi amôniac), vị mặn và hơi chua. Cho nên nhiều nơi gọi là phân muối diêm.
Sunphat đạm là loại phân bón tốt vì có cả N và lưu huỳnh là hai chất dinh dưỡng thiết yếu cho cây.

- Phân loại và đóng gói:
+ Phân này dễ tan trong nước, không vón cục. 
+ Thường ở trạng thái tơi rời, dễ bảo quản, dễ sử dụng. Tuy nhiên, nếu để trong môi trường ẩm phân dễ vón cục, đóng lại thành từng tảng rất khó đem bón cho cây.

- Chức năng và cách dùng: 
+ Có thể đem bón cho tất cả các loại cây trồng, trên nhiều loại đất khác nhau, miễn là đất không bị phèn, bị chua. Nếu đất chua cần bón thêm vôi, lân mới dùng được đạm sunphat amôn. Phân này dùng tốt cho cây trồng trên đất đồi, trên các loại đất bạc màu (thiếu S).
+ Đạm sunphat được dùng chuyên để bón cho các loài cây cần nhiều lưu huỳnh (S) và ít nitor (N), như đậu đỗ, lạc... và các loại vây vừa cần nhiều S vừa cần nhiều N như ngô.
+ Cần lưu ý, đạm sunphat là loại phân có tác dụng nhanh, rất chóng phát huy tác dụng đối với cây trồng, cho nên thường được dùng để bón thúc và bón thành nhiều lần để tránh mất đạm.

+ Khi bón cho cây con cần chú ý là phân này dễ gây cháy lá. Không nên sử dụng phân đạm sunphat để bón trên đất phèn, vì phân dễ làm chua thêm đất.

2.3.3. Phân đạm clorua
- Về mặt hoá học: 
+ Công thức: Phân đạm clorua có công thức hoá học là (NH4Cl)
+ Thành phần: Có chứa 24–25% nitơ nguyên chất. 

- Phân loại và đóng gói:
+ Đạm clorua có dạng tinh thể mịn, màu trắng hoặc vàng ngà. 
+ Phân này dễ tan trong nước, ít hút ẩm, không bị vón cục, thường tơi rời nên dễ sử dụng.

- Chức năng và cách dùng: 
+ Là loại phân sinh lý chua. Vì vậy, nên bón kết hợp với lân và các loại phân bón khác. Đạm clorua không nên dùng để bón cho thuốc lá, chè, khoai tây, hành, tỏi, bắp cải, vừng, v.v.
+ Ở các vùng khô hạn, ở các chân đất nhiễm mặn không nên bón phân đạm clorua, vì ở những nơi này trong đất có thể tích luỹ nhiều clo, dễ làm cho cây bị ngộ độc.

2.3.5. Phân Xianamit canxi
- Về mặt hoá học:
+ Công thức:
+ Thành phần: Xianamit canxi có chứa 20 – 21% N nguyên chất, 20 – 28% vôi, 9 – 12% than 

- Phân loại và đóng gói:
+ Phân này có dạng bột không có tinh thể, màu xám tro hoặc màu trắng, đốt không có mùi khai. 
+ Vì có than cho nên phân có màu xám đen. Cũng có loại phân tỷ lệ than thấp hoặc không có than nên phân có màu trắng. Cần chú ý chống ẩm cho phân khi bảo quản, bởi vì nếu phân hút ẩm sẽ bị biến chất, hạt phân phình to lên làm rách bao bì và làm hỏng dụng cụ đựng. Phân này dễ bốc bụi. Khi bám vào da sẽ làm hỏng da, phân bay vào mắt sẽ làm hỏng giác mạc mắt, vì vậy khi sử dụng phân này phải rất cẩn thận. 

- Chức năng và cách dùng:
+ Phân này có phản ứng kiềm, bởi vậy có thể khử được chua, dùng rất tốt ở các loại đất chua. Xianamit canxi thường được dùng để bón lót.
+ Muốn dùng để bón thúc phải đem ủ trước khi bón. Bởi vì phân này khi phân giải tạo ra một số chất độc có thể làm hỏng móng chân trâu bò, hại da chân người nông dân. Thường sau 7 – 10 ngày các chất độc mới hết. Thường xianamit canxi được trộn ủ với phân rác làm cho phân chóng hoai mục. 
+ Phân này không được dùng để phun lên lá cây.

2.3.6. Phân phôtphat đạm (còn gọi là phốt phát amôn)
- Về mặt hoá học:
+ Công thức: 
+ Thành phần: Là loại phân vừa có đạm, vừa có lân. Trong phân có tỷ lệ đạm là 10-18%, tỷ lệ lân là 44-50%.

- Phân loại và đóng gói:
+ Phôtphat đạm có dạng viên, màu xám tro hoặc trắng, nói chung màu sắc tùy thuộc vào nhà sản xuất và không ảnh hưởng tới chất lượng. Trên thị trường hiện nay đang lưu hành hai loại phân bón ammonphot là DAP(18-46-0) và MAP( 10-50-0). Phân dễ chảy nước. Vì vậy, người ta thường sản xuất dưới dạng viên và được đựng trong các bao nilông. 

- Chức năng và cách dùng:
+ Phân rất dễ tan trong nước và phát huy hiệu quả nhanh. 
+ Phân được dùng để bón lót, bón thúc đều tốt. Phân là loại dễ sử dụng. Phân DAP là loại phân trung tính nên có thể sử dụng trên các loại đất khác nhau, còn phân MAP là loại chua sinh lý(pH: 4-4.5) nên không thích hợp đối với các loại đất chua. 
+ Phân có tỷ lệ đạm hơi thấp so với lân, cho nên cần bón phối hợp với các loại phân đạm khác, nhất là khi bón cho các loại cây cần nhiều đạm.

2.3.7. Những điều cần chú ý khi sử dụng phân đạm
- Ở nước ta có 3 loại phân đạm thường được dùng phổ biến nhất, đó là: phân urê, phân amôn sunphat và phân amôn phôtphat. Khi được sử dụng hợp lý, 1 kg N nguyên chất có thể thu được 10 - 22 kg thóc hoặc 25 - 35 kg ngô hạt. 

- Lưu ý: Để đảm bảo hiệu quả sử dụng các loại phân hoá học cần chú ý đến những điểm sau đây:
  a. Phân cần được bảo quản trong các túi nilông. Chỗ để phân cần thoáng mát, khô ráo, mái kho không bị dột. Không để chung phân đạm cùng với các loại phân khác.
  b. Cần bón đúng đặc tính và nhu cầu của cây trồng. Cây có những đặc tính rất khác nhau. Nhu cầu của cây đối với N cũng rất khác nhau. Có cây yêu cầu nhiều N, có cây yêu cầu ít. Nếu bón N nhiều, vượt quá yêu cầu của cây, N cũng gây ra những tác hại đáng kể. Bón đúng yêu cầu của cây, N phát huy tác dụng rất tốt.
  c. Cần bón đúng dạng phân theo đặc điểm của cây và của đất đai. Đối với các loại cây trồng cạn như: ngô, mía, bông v.v.. bón đạm nitrat là thích hợp, nhưng đối với lúa nước nên bón đạm clorua hoặc SA. Đối với các loại cây họ đậu nên bón đạm sớm, trước khi nốt sần được hình thành trên rễ cây. Khi trên rễ cây đã có các nốt sần, không nên bón đạm, vì đạm ngăn trở hoạt động cố định đạm từ không khí của các loài vi khuẩn nốt sần.
  d. Cần bón đạm đúng với đặc điểm của đất:
- Phân có tính kiềm nên bón cho đất chua. Phân chua sinh lý nên bón cho đất kiềm. Đất lầy thụt, nhiều bùn không cần bón phân đạm.
  Lưu ý:
  + Cần bón đạm đúng lúc. Tốt nhất là bón vào thời kỳ sinh trưởng mạnh nhất của cây.
  + Cần bón đạm đúng liều lượng và cân đối với lân và kali.
  + Bón phân đạm cần lưu ý đến diễn biến của thời tiết. Không bón lúc mưa to, lúc ruộng vườn đầy nước.
  + Không bón đạm tập trung vào một lúc, một chỗ, mà cần chia thành nhiều lần để bón và bón vãi đều trên mặt đất ở những nơi cần bón. Không bón đạm quá thừa. Vì khi thừa đạm, cây phát triển mạnh, dễ đổ ngã, ra hoa chậm, ít hạt, hạt lép nhiều, quả dễ rụng, nhiều sâu bệnh, phẩm chất quả giảm. Tốn tiền mua phân đạm mà không thu được kết quả gì, gây lãng phí.
  + Bón phân đạm cần kết hợp với làm cỏ, xới đất, sục bùn (đối với lúa).

3. Phân lân 
3.1. Vai trò, chức năng: 
Ảnh minh hoạ: Một loại lân thông dụng - nguồn: http://tiennong.vn
- Lân có vai trò quan trọng trong đời sống của cây trồng.
- Lân có trong thành phần của hạt nhân tế bào, rất cần cho việc hình thành các bộ phận mới của cây. 
- Lân tham gia vào thành phần các enzim, các prôtêin, tham gia vào quá trình tổng hợp các axit amin. 
- Lân kích thích sự phát triển của rễ cây, làm cho rễ ăn sâu vào đất và lan rộng ra chung quanh, tạo thêm điều kiện cho cây chống chịu được hạn và ít đổ ngã. 
- Lân kích thích quá trình đẻ nhánh, nảy chồi, thúc đẩy cây ra hoa kết quả sớm và nhiều. 
- Lân làm tăng đặc tính chống chịu của cây đối với các yếu tố không thuận lợi: chống rét, chống hạn, chịu độ chua của đất, chống một số loại sâu bệnh hại v.v… 
- Ở một số loại đất trên nước ta, lân trở thành yếu tố hạn chế đối với năng suất cây trồng. Đặc biệt ở hầu hết các loại đất trồng lúa ở các tỉnh phía Nam. Thiếu lân không những làm cho năng suất cây trồng giảm mà còn hạn chế hiệu quả của phân đạm. 
- Hiệu suất của phân lân khá cao. Trên một số loại đất ở Tây Nguyên bón 1 kg P2O5 cho hiệu quả thu được 4,3 – 7,5 kg cà phê nhân, 8,5 kg thóc. Ở các vùng đất phèn mới khai hoang, hiệu suất của phân lân càng cao hơn, 1 kg P2O5 mang lại 9,0 kg thóc, ở mức bón 40 – 60 kg P2O5/ha. Bón quá nhiều phân lân trong nhiều trường hợp có thể làm cho cây bị thiếu một số nguyên tố vi lượng. Vì vậy, cần bón thêm phân vi lượng, nhất là Zn.

3.2. Phân loại:
3.2.1. Phôtphat nội địa
- Đó là loại bột mịn mang, màu nâu thẫm hoặc đôi khi có màu nâu nhạt. 
- Tỷ lệ lân nguyên chất trong phân thay đổi rất nhiều, từ 15% đến 25%. Loại phân thường có trên thị trường có tỷ lệ là 15 – 18%. 
- Trong phân phôtphat nội địa, phần lớn các hợp chất lân nằm ở dạng khó tiêu đối với cây trồng. Phân có tỷ lệ vôi cao, cho nên có khả năng khử chua. Vì lân trong phân ở dưới dạng khó tiêu, cho nên phân chỉ dùng có hiệu quả ở các chân đất chua. 
- Ở các chân ruộng không chua, hiệu lực của loại phân này thấp; ở loại đất này, loại phân này dùng bón cho cây phân xanh có thể phát huy được hiệu lực. 
- Phân này chỉ nên dùng để bón lót, không dùng để bón thúc. Khi sử dụng có thể trộn với phân đạm để bón, nhưng trộn xong phải đem bón ngay, không được để lâu. Phân này dùng để ủ với phân chuồng rất tốt. Phân phôtphat nội địa ít hút ẩm, ít bị biến chất, cho nên có thể cất giữ được lâu. Vì vậy, bảo quản tương đối dễ dàng.

3.2.2. Phân apatit
- Là loại bột mịn, màu nâu đất hoặc màu xám nâu. 
- Tỷ lệ lân nguyên chất trong phân thay đổi nhiều. Thường người ta chia thành 3 loại: loại apatit giàu có trên 38% lân; loại phân apatit trung bình có 17 – 38% lân; loại phân apatit nghèo có dưới 17% lân. 
- Thường loại apatit giàu được sử dụng để chế biến thành các loại phân lân khác, còn loại trung bình và loại nghèo mới được đem nghiền thành bột để bón cho cây. 
- Phần lớn lân trong phân apatit ở dưới dạng cây khó sử dụng. Apatit có tỷ lệ vôi cao nên có khả năng khử chua cho đất. Phân này được sử dụng tương tự như phôtphat nội địa. 
- Sử dụng và bảo quản phân này tương đối dễ dàng vì phân ít hút ẩm và ít biến chất.

3.2.3. Supe lân
- Là loại bột mịn màu trắng, vàng xám hoặc màu xám thiếc. 
- Một số trường hợp supe lân được sản xuất dưới dạng viên. Trong supe lân có 16 – 20% lân nguyên chất. Ngoài ra, trong phân này có chứa một lượng lớn thạch cao. 
- Trong phân còn chứa một lượng khá lớn axit, vì vậy phân có phản ứng chua. Phân dễ hoà tan trong nước cho nên cây dễ sử dụng. Phân thường phát huy hiệu quả nhanh, ít bị rửa trôi. Supe lân có thể dùng để bón lót hoặc bón thúc đều được. 
- Phân này có thể sử dụng để bón ở các loại đất trung tính, đất kiềm, đất chua đều được. Tuy nhiên, ở các loại đất chua nên bón vôi khử chua trước khi bón supe lân. Supe lân có thể dùng để ủ với phân chuồng. Nếu supe lân quá chua, cần trung hoà bớt độ chua trước khi sử dụng. Có thể dùng phôtphat nội địa hoặc apatit. Nếu đất chua nhiều dùng 15 – 20% apatit để trung hoà, đất chua ít dùng 10 – 15%. Nếu dùng tro bếp để trung hoà độ chua của supe lân thì dùng 10 – 15%, nếu dùng vôi thì tỷ lệ là 5 – 10%. 

- Phân supe lân thường phát huy hiệu quả nhanh, cho nên để tăng hiệu lực của phân, người ta thường bón tập trung, bón theo hốc, hoặc sản xuất thành dạng viên để bón cho cây. Phân này có thể dùng để hồ phân rễ mạ. 
- Supe lân ít hút ẩm, nhưng nếu cất giữ không cẩn thận phân có thể bị nhão và vón thành từng cục. 
- Phân có tính axit nên dễ làm hỏng bao bì và dụng cụ đong đựng bằng sắt.

3.2.4. Tecmô phôtphat (phân lân nung chảy, lân Văn Điển 
- Phân có dạng bột màu xanh nhạt, gần như màu tro, có óng ánh. 
- Tỷ lệ lân nguyên chất trong tecmô phôtphat là 15 – 20%. Ngoài ra trong phân còn có canxi 30% một ít thành phần kiềm, chủ yếu là magiê 12 – 13%, có khi có cả kali. Tecmô phôtphat có phản ứng kiềm, cho nên không nên trộn lẫn với phân đạm vì dễ làm cho đạm bị mất. 
- Phân này không tan trong nước, nhưng tan được trong axit yếu. Cây sử dụng dễ dàng. Phân có thể sử dụng để bón lót hoặc bón thúc đều tốt. Tecmô phôtphat phát huy hiệu lực tốt ở các vùng đất chua, vì phân có phản ứng kiềm. 
- Phân sử dụng có hiệu quả trên các vùng đất cát nghèo, đất bạc màu vì phân chứa nhiều vôi, có các nguyên tố vi lượng và một ít kali. Phân này thường được bón rải, ít khi bón tập trung và ít được sản xuất dưới dạng viên. 
- Không sử dụng tecmô phôtphat để hồ phần rễ mạ. Tecmô phôtphat ít hút ẩm, luôn ở trong trạng thái tơi rời và không làm hỏng dụng cụ đong đựng.

3.2.5. Phân lân kết tủa
- Phân có dạng bột trắng, nhẹ, xốp trong giống như vôi bột. 
- Phân có tỷ lệ lân nguyên chất tương đối cao, đến 27 – 31%. Ngoài ra trong thành phần của phân có một ít canxi. Phân này được sử dụng tương tự như tecmô phôtphat. 
- Phân ít hút ẩm cho nên bảo quản dễ dàng.

4. Phân kali 
4.1. Vài trò, chức năng:
Ảnh minh hoạ: Một loại lân kali - nguồn: kenhdaihoc.com
- Phân kali thuộc nhóm phân bón cung cấp chất dinh dưỡng kali cho cây. 
- Kali có vai trò chủ yếu trong việc chuyển hoá năng lượng trong quá trình đồng hoá các chất dinh dưỡng của cây. 
- Kali làm tăng khả năng chống chịu của cây đối với các tác động không lợi từ bên ngoài và chống chịu đối với một số loại bệnh. 
- Kali tạo cho cây cứng chắc, ít đổ ngã, tăng khả năng chịu úng, chịu hạn, chịu rét. 
- Kali làm tăng phẩm chất nông sản và góp phần làm tăng năng suất của cây. 
- Kali làm tăng hàm lượng đường trong quả làm cho màu sắc quả đẹp tươi, làm cho hương vị quả thơm và làm tăng khả năng bảo quản của quả. 
- Kali làm tăng chất bột trong củ khoai, làm tăng hàm lượng đường trong mía. 
- Trên phương diện khối lượng, cây trồng cần nhiều K hơn N. Nhưng vì trong đất có tương đối nhiều K hơn N và P, cho nên người ta ít chú ý đến việc bón K cho cây. 
- Trong cây K được dự trữ nhiều ở thân lá, rơm rạ, cho nên sau khi thu hoạch kali được trả lại cho đất một lượng lớn. 
- Kali có nhiều trong nước ngầm, nước tưới, trong đất phù sa được bồi hàng năm. Vì vậy, việc bón phân kali cho cây không được chú ý đến nhiều. 
- Hiện nay, trong sản xuất nông nghiệp càng ngày người ta càng sử dụng nhiều giống cây trồng có năng suất cao. Những giống cây trồng này thường hút nhiều K từ đất, do đó lượng K trong đất không đủ đáp ứng nhu cầu của cây, vì vậy muốn có năng suất cao và chất lượng nông sản tốt, thì phải chú ý bón phân kali cho cây. Mặt khác, các bộ phận thân lá cây, rơm rạ, v.v.. sau khi thu hoạch sản phẩm chính của nông nghiệp, hiện nay được sử dụng nhiều để nuôi trồng nấm, làm vật liệu độn chuồng, làm chất đốt, v.v.. và bị đưa ra khỏi đồng ruộng, vì vậy, việc bón kali cho cây càng trở nên cần thiết. Những nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học cho thấy trừ đất phù sa sông Hồng có hàm lượng kali tương đối khá, còn lại phần lớn các loại đất ở nước ta đều nghèo kali. Hàm lượng kali ở các loại đất này thường là dưới 1%. Ở các loại đất xám, đất cát, đất bạc màu, đất nhẹ ở miền Trung nước ta, kali có ý nghĩa rất lớn trong việc làm tăng năng suất cây trồng. Kali cũng cho kết quả tốt trên đất xám Đông Nam Bộ. 

4.2. Những lưu ý khi sử dụng phân kali bón cho cây:
  + Bón kali ở các loại đất trung tính dễ làm cho đất trở nên chua. Vì vậy ở các loại đất trung tính nên kịp thời bón thêm vôi.
  + Kali nên bón kết hợp với các loại phân khác.
  + Kali có thể bón thúc bằng cách phun dung dịch lên lá vào các thời gian cây kết hoa, làm củ, tạo sợi.
  + Có thể bón tro bếp để thay thế phân kali.
  + Bón quá nhiều kali có thể gây tác động xấu lên rễ cây, làm cây teo rễ. Nếu bón quá thừa phân kali trong nhiều năm, có thể làm cho mất cân đối với natri, magiê. Khi xảy ra trường hợp này cần bón bổ sung các nguyên tố vi lượng magiê, natri.
  + Các loại cây có phản ứng tích cực với phân kali là: chè, mía, thuốc lá, dừa, chuối, khoai, sắn, bông, đay, 

4.3. Phân loại:
4.3.1. Phân clorua kali
- Phân có dạng bột màu hồng như muối ớt. Nông dân ở một số nơi gọi là phân muối ớt. Cũng có dạng clorua kali có màu xám đục hoặc xám trắng. 
- Phân được kết tinh thành hạt nhỏ. Hàm lượng kali nguyên chất trong phân là 50 – 60%. Ngoài ra trong phân còn có một ít muối ăn (NaCl). 
- Clorua kali là loại phân chua sinh lý. Phân này khi để khô có độ rời tốt, dễ bón. Nhưng nếu để ẩm phân kết dính lại với nhau khó sử dụng. 
- Hiện nay, phân clorua kali được sản xuất với khối lượng lớn trên thế giới và chiếm đến 93% tổng lượng phân kali. 
- Cloria kali có thể dùng để bón cho nhiều loại cây trên nhiều loại đất khác nhau. Có thể dùng phân này để bón lót hoặc bón thúc. Bón thúc lúc cây sắp ra hoa làm cho cây cứng cáp, tăng chất lượng nông sản. Clorua kali rất thích hợp với cây dừa vì dừa là cây ưa clo. 
- Không nên dùng phân này để bón vào đất mặn, là loại đất có nhiều clo, và không bón cho thuốc lá là loại cây không ưa clo. 
- Phân này cũng không nên dùng bón cho một số loài cây hương liệu, chè, cà phê, vì phân ảnh hưởng đến chất lượng nông sản.

4.3.2. Phân sunphat kali
- Phân có dạng tinh thể nhỏ, mịn, màu trắng. Phân dễ tan trong nước, ít hút ẩm nên ít vón cục. Hàm lượng kali nguyên chất trong sunphat kali là 45 – 50%. Ngoài ra trong phân còn chứa lưu huỳnh 18%. 
- Phân này có thể sử dụng thích hợp cho nhiều loại cây trồng. Sử dụng có hiệu quả cao đối với cây có dầu, rau cải, thuốc lá, chè, cà phê. Sunphat kali là loại phân chua sinh lý. Sử dụng lâu trên một chân đất có thể làm tăng độ chua của đất. 
- Không dùng sunphat kali liên tục nhiều năm trên các loại đất chua, vì phân có thể làm tăng thêm độ chua của đất.

4.3.3. Một số loại phân kali khác
- Phân kali – magie sunphat có dạng bột mịn màu xám. Phân có hàm lượng K2O: 20 – 30%; MgO: 5 – 7%; S: 16 – 22%. 
- Phân này được sử dụng có hiệu quả trên đất cát nghèo, đất bạc màu. Phân “Agripac” của Canada có hàm lượng K2O là 61%. Đây là loại phân khô, hạt to, không vón cục, dễ bón, thường được dùng làm nguyên liệu để trộn với các loại phân bón khác sản xuất ra phân hỗn hợp. Muối kali 40% có dạng muối trắng kết tinh có lẫn một ít vảy màu hồng nhạt. 
- Ngoài hàm lượng kali chiếm 40% trong khối lượng phân, trong thành phần của phân còn có muối ăn với tỷ lệ cao hơn muối ăn trong phân clorua kali. Phân này cần được sử dụng hạn chế trên các loại đất mặn.

Phần B. Ảnh hưởng của phân vô cơ (phân hoá học)

1. Tổng quan:
- Để đạt năng suất cao trong canh tác cây trồng, bên cạnh phân hữu cơ được sử dụng thì chúng ta sử dụng rất nhiều phân vô cơ, đặc biệt là phân đạm. Khi sử dụng phân vô cơ nhiều rất dễ gây ra ô nhiễm môi trường do tồn dư của nó, nhất là khi không sử dụng theo liều lượng như khuyến cáo, dẫn đến hiện tượng đất bị chua hoá, kết cấu kém đi, hàm lượng chất vôi giảm, hoạt động của vi sinh vật trong đất giảm, có sự tích tụ nitrat, kim loại nặng một số vùng.

2. Ảnh hưởng của phân vô cơ đối với tính chất lý hoá của đất.
2.1. Về mặt vật lý
- Gây ảnh hưởng tới độ nén dẽ (chai cứng) đất:
+ Do đất được canh tác liên tục trong nhiều năm dẫn đến tồn dư lượng phân bón hoá học trong đất ngày càng tăng cao. Chính lượng phân bón này làm ảnh hưởng tới sự nén dẽ của đất, ảnh hưởng trực tiếp tới độ phì nhiêu của đất. Đất bị nén dẽ làm giảm khả năng thấm nước của đất và ảnh hưởng quan trọng đến sự tăng trưởng của bộ rễ. Mặt khác, sự nén dẽ cũng làm mất cân đối về thành phần chất rắn, khí và nước trong đất, hoạt động của vi sinh vật kém.
+ Sự nén dẽ cũng làm thay đổi một số đặc tính vật lý đất như dung trọng đất, độ chặt, độ xốp, khả năng thấm của đất. Những thay đổi này làm ảnh hưởng đến sự di chuyển của nước và không khí trong đất, làm tăng sự chảy tràn nước trên bề mặt dẫn đến khả năng dự trữ nước trong đất giảm.
+ Sự nén dẽ cũng làm thay đổi các phản ứng hoá học trong đất vì thiếu oxy trong đất. Do đó, một số chất được tạo ra mà cây không hấp thụ được, thay đổi độ pH, thay đổi lượng axit hữu cơ trong đất.

- Gây ảnh hưởng tới dung trọng và độ xốp đất.
+ Trong quá trình bón phân hoá học thì thường cây trồng chỉ hấp thu được từ 30-50% lượng phân bón, do đó lượng phân bón còn lại trong đất dễ gây ảnh hưởng đến thành phần khoáng, hàm lượng chất hữu cơ, cấu trúc đất. Đây chính là các yếu tố cấu thành tính chất vật lý của đất: dung trọng và độ xốp đất. Khi yếu tố này thấp thì cây hấp thụ chất dinh dưỡng tốt. Khi yếu tố này cao sẽ làm giảm sự phát triển của hệ rễ cây trồng, giới hạn khả năng hấp thu dinh dưỡng, nước cũng như sự phát triển của bộ rễ. Điều này sẽ dẫn đến năng suất cây trồng giảm.

2.2. Về mặt hoá học:
- Sử dụng phân hoá học bừa bãi mà ít quan tâm đến sử dụng phân hữu cơ để bù đắp lại các thành phần dinh dưỡng, các yếu tố cấu thành đất dần dần sẽ làm thay đổi tính chất hoá học của đất, cụ thể là:
+ Thuỷ phân urê:
Phân ure tan trong nước, sau khi bón vào đất do tác động của men ure sẽ phân giải thành (NH4)2CO3 qua phản ứng hoá học sau:
CO(NH2)2 + 2H2O = (NH4)2CO3
+ Bay hơi amonia:
Bón phân ure và amonium sulphate có thể gây ra sự thất thoát NH3 vào không khí
Sự bón phân làm thúc đẩy tiến trình quang hợp của rong, tảo:
nCO2 + nH2O = (CH2O)n + nO2
Chính rong tảo có vai trò gián tiếp trong việc làm tăng pH do sự tiêu thụ H+ qua phản ứng sau:
CO2(không khí) + H2O = H2CO3
+ Ô nhiễm NO3 từ phân nitrat trong dung dịch đất hữu dụng ngay cho cây cũng dễ dàng bị thấm hoặc rửa trôi. Các cây màu thường hấp thụ N dưới dạng nitrat.
NH4 có thể chuyển thành dạng NO3 do sự nitrat hoá do vi sinh vật. Dạng NO3 từ phân bón hoặc được tạo ra từ sự nitrat hoá thì rất dễ bị rửa trôi vì không hấp thụ bởi keo đất mang điện tích dương.
+ Gây chua cho đất:
Ảnh hưởng quan trọng nhất của phân N là sự gây chua đất của phân ammonium và amide. Tác động gây chua một số loại phân N.
Quá trình nitrat hoá SA tạo ra trong đất 2 loại axid: HNO3 và H2SO4 thể hiện qua phản ứng hoá học:
(NH4)2SO4 + 4O2 = 2HNO3 + H2SO4 + 2H20
Ở đất chua, bón phân Sunphat Ammoni (SA) có khả năng đẩy ra một lượng độ chua trao đổi lớn:
(NH4)2SO4 = Keo đất + H2SO4
Ở đất không chua, ion NH4+ bị hấp thu vào keo đất và đẩy CA2+ ra. Do đó, bón SA làm cho đất mất vôi dần, lâu ngày làm cho đất hoá chua
 thể hiện qua giá trị độ pH của đất. Độ pH thích hợp cho đất và cây có thể phát triển bình thường là trong khoảng từ 5,5 – 7. Khi đất có độ pH thấp < 5,5 (đất mang tính axit) hay > 7 (đất mang tính kiềm) thì cây đều khó hấp thụ dinh dưỡng có trong đất. Với pH thích hợp, các vi sinh vật hoạt động hiệu quả, đẩy nhanh quá trình tạo mùn trong đất, giúp cải tạo đất, làm tăng độ phì của đất đồng thời làm tăng khả năng chống chịu những điều kiện thời tiết bất lợi.

3. Ảnh hưởng của phân vô cơ đối với sức khoẻ con người.
  Qua xem xét ảnh hưởng ở trên ta thấy, khi dùng phân bón hoá học sẽ có một số ảnh hưởng tới sức khoẻ con người như: 
- Gây các bệnh methaemoglobin và ung thư tiềm tàng nếu ăn phải thực phẩm có tồn dư NO3- và NO2-
- Làm giảm khả năng hấp thụ can xi nếu ăn phải các sản phẩm dư thừa photpho, dễ gây bệnh loãng xương, đặc biệt ở phụ nữ.
- Và nhiều bệnh lý khác gặp phải khi ăn phải cây trồng bị nhiễm độc hoá học từ phân bón. 

Nguồn và tài liệu tham khảo:
    + Ảnh: Trên internet
    + Thư viên bách khoa toàn thư http://vi.wikipedia.org
   + Các bài báo khoa học và các tài liệu chuyên ngành của các tácg giả: Tạ Thu Cúc - 2005, Lê Văn Khoa và cộng tác viên - 2003, Võ Thị Gương - 2004, Lê Huy Bá - 2000, Hồng Hưng, Hammel - 1994, Unger and Kaspar- 1994, Karchinski - 1965, Vũ Hữu Yêm - 2005...

    

Read more…

Ebooks - Phân hữu cơ và phân ủ - PGS.TS Nguyễn Thanh Hiền

Ebooks - Phân hữu cơ và phân ủ


Xin giới thiệu các bạn cuốn tài liệu: "PHÂN HỮU CƠ VÀ PHÂN Ủ "
Chủ đề: Nông nghiệp và nông thôn
của PGS.TS Nguyễn Than Hiền - Viện nghiên cứu và phổ biến kiến thức Bách Khoa










Read more…

Vi sinh vật và tác dụng của nó đối với đất trồng

Vi sinh vật và tác dụng của nó đối với đất trồng.

(Bài viết tham khảo từ nhiều nguồn).
Ảnh 1: Vi sinh vật
    Vi sinh vật là gì? Tác dụng của nó như thế nào đối với đất là vấn đề mà không phải ai cũng biết. Bài viết sau sẽ trình bày quá trình hình thành mùn và kết cấu của đất thông qua vi sinh vật. Biện pháp cải tạo đất ảnh hưởng tới vi sinh vật trong đất.

Ảnh 2: Vi sinh vật

 Mục lục:

1. Vi sinh vật là gì?
2. Vai trò của vi sinh vật
3. Các chủng VSV
4. Quá trình hình thành mùn nhờ VSV
5. Quá trình hình thành theo thực nghiệm của Konopva
6. Điều kiện hoạt động của VSV
7. Các biện pháp cải tạo đất ảnh hưởng tới hệ VSV
8. Kết luận

1. Vi sinh vật là gì?

   Vi sinh vật (VSV) là những sinh vật vô cùng nhỏ bé, có kích thước hiển vi, không thể nhìn thấy bằng mắt thường. VSV bao gồm: vi khuẩn, vi tảo, vi nấm, động vật nguyên sinh, vi rút….

Ảnh 3: Vi sinh vật
2. Vai trò của VSV

2.1. Trong tự nhiên:
- Có lợi:
+ Vi sinh vật là mắt xích quan trọng trong các chu trình chuyển hóa vật chất và năng lượng trong tự nhiên
+ Tham gia vào việc gìn giữ tính bền vững của hệ sinh thái và bảo vể môi trường
- Có hại :
+ Gây bệnh cho người ĐV, TV
+ VSV là nguyên nhân gây hư hỏng thực phẩm

2.2. Trong nghiêm cứu di truyền
   Là đối tượng lí tưởng trong công nghệ di truyền, công nghệ sinh học…

2.3. Trong đời sống con người

- Sản xuất sinh khối, và các chất có hoạt tính sinh học
+ Sản xuất axit amin
+ Sản xuất chất xúc tác sinh học (các enzim ngoại bào : amilaza, prôteaza..)
+ Sản xuất gôm sinh học:
+ Sản xuất chất kháng sinh
- Được sử dụng trong ngành công nghiệp lên men, nhiều sản phẩm lên men VSV đã đựoc sản xuất lớn ở qui mô công nghiệp
- Bảo vệ môi trường: VSV tham gia tích cực vào quá trình phân giải các phế thải nông nghiệp, phế thải công nghiệp, rác sinh hoạt …
- Trong sản xuất nông nghiệp :
+ Được sử dụng làm phân bón, thuốc trừ sâu vi sinh và các chế phẩm vi sinh dùng trong chăn nuôi
+ Tham gia vào quá trình tạo mùn, quá trình phân giải xác hữu cơ thành dạng đơn giản dùng làm thức ăn cho cây trồng
- Có vai trò quan trọng trọng ngành năng lượng: Các VSV chuyển hóa chất hữu cơ thành cồn, gas …

3. Các chủng VSV

3.1. VSV phân giải tinh bột
   Trong rác bể ủ có nhiều loại vi sinh vật có khả năng phân giải tinh bột. Một số vi sinh vật có khả năng tiết ra môi trường đầy đủ các loại enzym trong hệ enzym amilaza. Ví dụ như một số vi nấm bao gồm một số loại trong các chi Aspergillus, Fusarium, Rhizopus. Trong nhóm vi khuẩn có một số loài thuộc chi Bacillus, Cytophaza, Pseudomonas... Xạ khuẩn cũng có một số chi có khả năng phân huỷ tinh bột. Đa số các vi sinh vật không có khả năng tiết đầy đủ hệ enzym amilaza phân huỷ tinh bột. Chúng chỉ có thể tiết ra môi trường một hoặc một vài men trong hệ đó. Các nhóm này cộng tác với nhau trong quá trình phân huỷ tinh bột thành đường. Trong sản xuất người ta thường sử dụng các nhóm vi sinh vật có khả năng phân huỷ tinh bột. Ví dụ trong chế biến rác thải hữu cơ người ta cũng sử dụng những chủng vi sinh vật có khả năng phân huỷ tinh bột để phân huỷ tinh bột có trong thành phần rác hữu cơ.

Ảnh 4: Vi sinh vật Aspergillus
3.2. VSV phân huỷ chuyển hoá xenlulozơ
   Một số VSV được biết đến là Tricoderma, vi nấm, Asperrgillus, Fusarium hay mucor


Ảnh 5: Vi sinh vật tricoderma
3.3. VSV phân giải đường
   Một số VSV đặc trưng là: nấm men,…

3.4. Các chủng VSV khác:
   Một số chủng VSV khác có tác dụng cố định đạm, phân giải lân, phân giải kali hay hydrocacbon và các polime dự trữ nội bào…

4. Quá trình hình thành mùn từ VSV

4.1. Thế nào là mùn? Mùn hình thành như thế nào?
   Hiểu một cách đơn giản, mùn là một thể hữu cơ phức tạp, là một bộ phận rất quan trọng trong đất. Mùn là cơ sở chủ yếu hình thành độ phì nhiêu của đất. Nói cách khác, quá trình hình thành mùn gắn liền với quá trình phát sinh đất.
   Để hình thành mùn thì các chất thải của môi trường như: xác động, thực vật, các chất hữu cơ hoai mục như phân gà, phân bò, phân chim, phân rơi…cần phải được một số chủng VSV có trong đất biến đổi thành. Nhóm VSV này được biết đến là VSV lên men. Bao gồm nhiều loại: VSV phân giải tinh bột, VSV phân giải đường, VSV phân huỷ chuyển hoá xenlulozơ, hemixenlulozơ (saccaromices, mucor,bacillus…).

4.2. Các quan điểm hình thành VSV
4.2.1. Quan điểm hoá học:

   Theo quan điểm này thì xác động, thực vật vùi trong đất sẽ thối rữa, phân huỷ và chuyển hoá do quá trình oxi hoá các chất vô cơ, phần cònlại sau quá trình phân giải sẽ tạo thành mùn. Như vậy, mùn là chất dư thừa sau quá trình phân giải xác đông, thực vật.

4.2.2. Quan điểm sinh học:
   Khi xác động, thực vật được vùi vào đất nhờ có các VSV phân huỷ chuyển hoá theo 02 hướng: vô cơ hoá và mùn hoá. Quá trình vô cơ hoá diễn ra trước tiên. Đó là quá trình chuyển hoá các hợp chất hữu cơ thành các chất vô cơ dễ tiêu. Sau khi quá trình này kết thúc, quá trình mùn hoá bắt đầu. Cụ thể, đó là quá trình chuyển hoá hợp chất hữu cơ thành các chất vô cơ và hữu cơ đơn giản hơn kết hợp với quá trình tự tiêu, tự giải của VSV. Do vây, mùn là sản phẩm tổng hợp được hình thành nhờ hoạt động của VSV. Quá trình hình thành mùn nhanh hay chậm là do chủng VSV và do chính bản thân các xác động, thực vật vùi lấp trong đất.

5. Quá trình hình thành mùn theo thực nghiệm của nhà khoa học Konopva

 
Ảnh 6: Quá trình hình thành mùn
 Thực nghiệm cho thấy: 

 - Sau 3 ngày trên bề mặt của cỏ 3 lá được phủ dày đặc nấm sợi/
- Sau 7 ngày thấy nấm sợi biến mất, thay thế vào đó là vi khuẩn và nguyên sinh động vật.
- Sau 10 ngày, nhóm VSV lên men xuất hiện saccharomyces.
- Sau 15 ngày, biến trùng xuất hiện.
- Sau 6 tháng, xuất hiện nhiều loại xạ khuẩn và vi khuẩn nha bào. Chúng hoạt động mạnh để phân huỷ các chất bền vững như: xenlulozơ, hemixenlulozơ, lignin, chitin...
- Sau quá trình là mùn hình thành.

6. Điều kiện phân giải:

   Muốn VSV phân giải được chất hữu cơ, phải đảm bảo điều kiện thích hợp gồm: nhiệt độ, độ ẩm, pH, tỉ lệ C/N. Tùy loại VSV mà đòi hỏi các điều kiện khác nhau.
- Đa số VSV là loại ưa ấm, thích hợp ở nhiệt độ từ 28 – 30oc.
- Đa số VSV thích hợp ở pH trung tính pH từ 6,5 – 7,5.
   Nếu cao quá, thấp quá VSV không sinh trưởng được.
- VSV cần các chất khoáng khác nhau, trước hết là cacbon và Nito(C/N). Tỉ lệ thích hợp thường trên 30(C/N ~30 – 35). Nếu trên 30 là ít N nhiều Cacbon, lúc đó có thể bổ sung thêm Cacbon. Nếu C/N nhỏ hơn 30 là thiếu N, cần bổ sung thêm nguồn Nito từ phân chuồng.

7. Các biện pháp cải tạo đất ảnh hưởng tới hệ VSV trong đất.

- Các biện pháp canh tác như: cày bừa, xới xáo, bón phân... đều ảnh hưởng trực tiếp tới VSV và qua đó ảnh hưởng tới hàm lượng mùn trong đất. Tuy nhiên, nó lại có tác dụng trong việc làm thoáng khí giúp VSV phát triển tốt hơn.
- Biện pháp bón phân hữu cơ và vô cơ vào đất: Trong quá trình canh tác, trồng cây, người nông dân thường bón thêm phân chuồng, phân xanh, vôi... vào đất cũng ảnh hưởng tới hệ VSV. Bón phân hữu cơ, phân vô cơ hay vôi đều cung cấp dinh dưỡng cho VSV và bổ sung các đặc điểm lý, hoá của đất làm tăng cường hoạt động của VSV. 

8. Kết luận:
   Tài liệu trên đây chỉ mô tả một số họ VSV có ích trong quá trình cải tạo đất, đặc biệt trong vấn đề hình thành mùn. Cụ thể, các chủng VSV này ra sao, hoạt động như thế nào xin xem thêm trong tài liệu tham khảo chuyên nghành, trong bài viết này xin không đề cập đến.

Tài liệu tham khảo: 

- http://www.khoahoc.com.vn
- http://www.wikipedia.com
- http://www.google.com
- http://emuniv.com
Và các tài liệu chuyên ngành.





Read more…